Thứ Hai, 26 tháng 11, 2018


Bài 4, ÔNG NGUYỄN MẠNH HÀ MUỐN VINH DANH VNCH BẰNG LÝ LẼ NGỤY BIỆN, XẢO TRÁ
Lê Thanh Minh
Ở đời đúng là chữ “ngờ” là chữ khó đoán định nhất! Ai ngờ rằng ông phó giáo sư sử học Nguyễn Mạnh Hà trong buổi nói chuyện với truyền thông khi giới thiệu về bộ quốc sử lại có tư tưởng vinh danh chế độ ngụy quân, ngụy quyền mạnh mẽ đến thế? Nghe ông ấy thuyết giảng (trong đoạn clip) về cái gọi thành tựu giáo dục, nền kinh tế xã hội dưới bàn tay của ngụy quân, ngụy quyền VNCH  và còn đưa ra cái luận điệu ngây ngô: “Nếu không thừa nhận các chính thể trước đó thì sẽ không thể chứng minh được “sự thụ đắc liên tục” trong vấn đề tuyên bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Ví dụ, năm 1951, Thủ tướng Trần Văn Hữu của chính quyền Bảo Đại đã tuyên bố trước Hội nghị Liên hợp quốc về biển tại San Franscisco về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Nếu không thừa nhận chính quyền Bảo Đại như một thực thể lịch sử thì sẽ bị trống một khoảng về “sự thụ đắc liên tục” của Việt Nam đối với Hoàng Sa,Trường Sa”, mà Lão nông tôi cứ nghĩ là mình đang mơ ngủ, sống nhầm thời đại, sống lộn chế độ cơ!




Bài này xin thưa với ông Nguyễn Mạnh Hà 2 vấn đề:
1. Rất buồn cười vì trong lời phát biểu này, ông khen nền giáo dục và nền kinh tế miền Nam dưới chế độ nguỵ quân, nguỵ quyền (giọng này giống những kẻ đang chống phá đất nước khi gào thét, tô vẽ cái đẹp của nền giáo dục và kinh tế của VNCH, cũng giống cái giọng của ông Nguyễn Nhã trước đây quá cơ). Đúng ra ông phải biết và thật ra ông biết, nền giáo dục dưới chế độ VNCH ấy chỉ giành cho một số ít người dân đô thị miền Nam, bọn quý tộc nguỵ quân, nguỵ quyền được hưởng theo “lợi nhuận” cho việc bán nước, tay sai, hại dân mà Mỹ trả công đấy. Chứ ở nông thôn, người nghèo khổ được hưởng chăng? Nhân đây, tôi cũng xin trích vài ý kiến của chính những nhà giáo dục dưới chế độ nguỵ quyền VNCH nói về nền giáo dục miền Nam trong thời nguỵ quyền Sái Gòn (dẫn lại theo Trần Văn Chánh - Nền giáo dục miền Nam 1954 - 1975) cho ông biết: Thượng tọa Thích Đức Nghiệp (Hiệu trưởng Trung học tư thục Vạn Hạnh): “Nền giáo dục và chính sách giáo dục hiện tại đã quá lỗi thời… Chỉ là hậu thân của chương trình giáo dục Pháp suốt gần một thế kỷ mà họ cai trị… Đó là một thứ bã mía mà người ta bỏ lại, mình đâm đầu ra hít lấy tưởng là ngon, là bổ nhưng rút cuộc toàn là cặn bã cả”. Ông Trần Ngọc Ninh (Giáo sư Y khoa Đại học Sài Gòn, nguyên Tổng ủy viên Văn hóa Xã hội kiêm Ủy viên Giáo dục 7.1965 đến 7.1966 của chế độ nguỵ quyền VNCH):“Trong khoảng đất của giáo dục, tình hình thực là đen tối: kỷ luật học đường gần như không còn nữa. Học trò quyết định, thầy giáo cúi đầu. Nghề dạy học đang xuống dốc để trở thành một nghề buôn, trong đó có cả những gian thương giáo dục như mọi nghề buôn bán khác. Đến nay lòng tin đã mất hẳn”. Ông GS Nguyễn Chung Tú đã đưa ra kết luận bằng cách trích dẫn lời nhận định của chính ông Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục của nền giáo dục nguỵ quyền VNCH Bùi Tường Huân: “Tình trạng giáo dục quả thật là bi đát! Không có chính sách rõ rệt, hệ thống lạc hậu, chương trình ôm đồm vá víu, cơ sở thiếu thốn…/ Thêm vào đó, thái độ tắc trách, buông xuôi của một số giáo chức, lòng nghi ngờ thiếu tin tưởng cùng tinh thần khoa cử của một số sinh viên, học sinh/ Đấy chẳng qua chỉ là hậu quả tất nhiên của một chế độ bất công”. Còn một ông dân biểu quốc hội của nguỵ quyền VNCH thời đó đã cực lực mạt sát, phê phán không tiếc lời về học đường như sau: “Học đường hỗn độn đảo lộn thê thảm vô kỷ luật không còn tôn ti trật tự. Học trò thì du đãng, du côn, xấc láo. Cha mẹ chửi thầy, đánh thầy, học sinh bãi khóa, bãi thi, xuống đường hoan hô đả đảo sa đọa bi quan. Học sinh khinh bỉ nhục mạ vì tư cách nô lệ bợ đỡ người trên đàn áp kẻ dưới, bán đề thi ăn tiền, chạy chọt thi cử. Giáo dục trở thành một nghề buôn, đàn anh là các tay đầu cơ gian thương. Học sinh không tin tưởng gì nữa thì chúng ta dạy cái gì đây. Tóm lại nền giáo dục đã hoàn toàn thất bại và đang đi dần đến chỗ phá sản”… Đến đây thì rõ cả rồi nhé các cụ!
Lời phát biểu của ông Hà hay ông nào khác khi vinh danh nền giáo dục của ngụy quyền để làm cớ chính danh VNCH đều đang xúc phạm đến thành quả của nền giáo dục và nền kinh tế của nước nhà hiện nay. Thưa ông Nguyễn Mạnh Hà, ông nên nhớ: Một nền giáo dục đi từ con số 0 tròn trĩnh, khi tiếng i-tờ vang lên dưới bom đạn của Mỹ, giở trang sách dưới ánh đèn dầu trong hầm trú ẩn, thầy và học trò ngồi trong lớp học “bình dân học vụ” mà đầu vẫn phải đội mũ rơm chống mảnh đạn của giặc xâm lược… một nền giáo dục mà lớp lớp thầy - cô giáo, học sinh đã phải gác bút, cầm súng đánh đuổi quân xâm lược và tay sai nguỵ quân, nguỵ quyền để giữ nước, giữ giống nòi, để rồi sau chiến tranh giải phóng, nền giáo dục ấy lại vừa hành cái việc dạy, việc học, vừa tham gia kiến thiết đất nước, khắc phục hậu quả chiến tranh, và đến hôm nay, dù còn nhiều thiếu sót, lỗ hổng, bất cập nhưng nền giáo dục ấy cũng đã có rất nhiều thành tựu, được thế giới ghi nhận.
2. Ông Hà nói “Nếu không thừa nhận chính quyền Bảo Đại như một thực thể lịch sử thì sẽ bị trống một khoảng về “sự thụ đắc liên tục” của Việt Nam đối với Hoàng Sa,Trường Sa”. Đó là sự ngụy biện. Theo tư duy logic,  ý ông ta và những người như ông ta muốn chính danh Quốc gia Việt Nam là nhà nước vì VNCH là kế thừa của Quốc gia Việt Nam, nên khi đã chính danh được cho QGVN, thì theo tính nối tiếp, đương nhiên VNCH sẽ là chính danh, và đương nhiên khi đó từ ngụy quân, ngụy quỳên sẽ vô nghĩa với VNCH. Đúng là kiểu ngụy biện xảo quỵêt.
Tôi hỏi ông Hà có phải ông giả bộ ngây ngô về lịch sử? Vì thật ra cái gọi là QGVN chỉ là "giải pháp Bảo Đại" của thực dân Pháp để quay lại đô hộ Việt Nam. Pháp đưa Bảo đại lên làm Quốc trưởng, nhưng không có quốc hội, không có quân đội, không có lãnh thổ, không có gì cả, tất cả những gì thuộc miền Nam lúc bấy giờ đều trong tay Pháp, quyền hành thuộc về Pháp, Bảo Đại và chính phủ của ông ta chỉ là bù nhìn, tay sai. Hỏi làm sao được gọi là chính danh nhà nước? Hơn nữa, khi mà trước đó, năm 1945, chính Bảo Đại đã trao ấn kiếm cho Chính phủ VNDCCH của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và nhà nước VNDCCH đã chính danh từ đó trong lãnh đạo đất nước Việt Nam và liên tục suốt chiều dài lịch sử đến nay. Trong thực tế QGVN là nguỵ.
Sự ngây ngô giả bộ hay gọi là ngụy biện của ông Hà (cũng như ông Cường, ông Nhã trước đây) và những người như ông ta còn ở chỗ: Hội nghị quốc tế liên quan đến pháp lý của Việt Nam đối với Hoàng sa, Trường sa không quyết định ở Hội nghị Francsico 1951 được, mà phải quay lại từ các hội nghị trước đó là Hội nghị ra Tuyên bố Cairo năm 1943; Hội nghị Postdam năm 1945. Tại hai hội nghị này, các nước tham gia hội nghị và cả Trung Quốc đều không khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng sa và Trường sa. Còn Hội nghị Francsico năm 1951, khi mà ông Trần Văn Hữu tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng sa và Trường sa thì tiếng nói này không có trọng lượng bởi hai lẽ:
=> Thứ nhất, mọi quyền hành và trọng lượng khẳng định vấn đề Việt Nam nằm trong tay thực dân Pháp;
=> Thứ hai, tại Hội nghị này thì không có Trung Quốc tham dự, vậy thử hỏi bây giờ đưa cái hội nghị này ra làm pháp lý chủ quyền cho Việt Nam đối với Hoàng sa, Trường sa thì Trung quốc có chịu không? Đừng ngây ngô, ảo tưởng, ngụy biện.
Hãy nhìn vào thực tế Philippin để mỗi người Việt Nam phải hiểu: Khẳng định chủ quyền và đòi lại Hoàng sa phải phụ thuộc vào yếu tố thuyết phục, nhưng quyết định nhất là sức mạnh tự cường của chính dân tộc Việt Nam.
Vậy nên, viết đến đây thì lão nông tôi mới biết mình còn tỉnh!...
Còn nữa….

Thứ Năm, 22 tháng 11, 2018

NGỤY QUÂN, NGỤY QUYỀN DÙ RÊU PHONG PHỦ KÍN THÌ DANH XƯNG ẤY CŨNG KHÔNG THAY ĐỔI VỚI NHỮNG KẺ PHẢN BỘI TỔ QUỐC VÀ NHÂN DÂN



BÀI 2: NGỤY TÂM, NGỤY NGÔN THÌ KHÔNG XỨNG ĐÁNG CẦM BÚT VIẾT QUỐC SỬ
Lê Thanh Minh

Bài 1, tôi viết về tính trung thực của phó giáo sư Nguyễn Mạnh Hà và đồng nghiệp của ông ta, tôi đăng bài thì bị báo cáo và mark gỡ bài. Như tôi đã từng tâm sự với anh chị em và đồng đội rằng con đường của chúng ta sẽ còn nhiều chông gai, cần sự kiên trì, kiên quyết, chân tâm trong sáng, đặc biệt nếu ta bỏ cuộc thì bọn xét lại và ủng hộ xét lại lịch sử sẽ mọc lên như nấm sau mưa. Hôm nay tôi xin gửi đến anh chị em, đồng chí, đồng đội của tôi bài 2. Mời mọi người quan tâm đón đọc.

Trở lại với cái clip của ông Nguyễn Mạnh Hà trong cuộc đối thoại, trao đổi với phóng viên qua câu lạc bộ Cà phê số, bài này tôi nói về cái ngụy tâm, ngụy ngôn của ông ấy và đồng nghiệp khi các ông ấy đi quảng bá cho bộ quốc sử, nhất là tập 22 của bộ quốc sử.



Trước hết, trong buổi nói chuyện ấy, ông Hà có đề cập đến những lý do, cơ sở khoa học để thay đổi danh xưng ngụy quân, ngụy quyền thành “chính quyền sài gòn”, “chính quyền VNCH” trong bộ quốc sử. Nhưng tất cả những ai đã xem clip đều nhận thấy: Những lý do ông ấy đưa ra đều giống những lý do của ông Trần Đức Cường và những người liên quan trong năm 2017 khi bảo vệ, mở đường cho bộ sách lịch sử Việt Nam 15 tập trước đây, và những giọng điệu đó đều có phần giống với giọng điệu của bọn ngụy quân, ngụy quyền đã và đang rêu rao, đòi hỏi chính danh hóa cho VNCH. Vậy ta thử hỏi: Một vấn đề như các ông ấy nói: Đổi mới, lấp khoảng trống trong lịch sử, trong đó “những cái” phải lấp, cần lấp cho lịch sử nước nhà giữa bộ quốc sử và bộ sách lịch sử 15 tập đều giống nhau, thế hà cớ chi phải viết một bộ sách 15 tập và phát hành trước, sau đó viết tiếp bộ sử đồ sộ được gọi là quốc sử? thời gian thì gần như tiến hành song song, cách nhau chỉ hơn 1 năm? Phải chăng các ông muốn biến bộ sách lịch sử 15 tập là hòn đá dò đường, thẩm định dư luận, soạn đường cho bộ quốc sử? Vậy viết sử là một nghề cần chân tâm hay chỉ là nghề kiếm tiền? Các ông có biết ngân sách đầu tư cho viết sử đều là ngân sách Nhà nước, thuế của dân? Tại sao một vấn đề lại được thực hiện bằng hai đề tài, hai bộ sách khác nhau mà không phải là nghiên cứu cho kỹ, cho sâu, cho đúng rồi viết một lần cho đỡ tốn kém? Phải chăng vì nó béo bở, thơm tho? Hãy nhìn xem bộ sử 15 tập ra đời được đã chi hết bao nhiêu tiền, đến nay đã bán được bao nhiêu? Nhà nước thu lại được vốn không? Nó được bao nhiêu người đón nhận? Vậy thằng anh của nó - bộ quốc sử nếu ra đời sẽ ra sao? Những câu hỏi này tôi để mọi người thẩm định, trả lời, Thanh Minh tôi chỉ nói một câu: Các nhà viết sử nhân danh khoa học, khách quan, trả lại lịch sử sự thật chỉ là ngụy tâm, ngụy ngôn mà thôi!

Thứ hai, Những lý do mà ông phó giáo sư Nguyễn Mạnh Hà đưa ra bảo vệ cho việc thay đổi danh xưng ngụy quân, ngụy quyền trong tập 22, bộ quốc sử là ngụy ngôn. Những lý do đó, ông Cường, ông Lê và nhiều ông khác là tác giả của bộ sách Lịch sử Việt Nam 15 tập đưa ra đều bị dư luận phản bác rất thuyết phục và chính các ông ấy đã im lặng chấp nhận. Hôm nay ông Hà lại đưa ra, dù ông biết sẽ bị dư luận lên án. Vì sao? Phải chăng vì lợi ích nên “cưa cùn không sợ gỗ ai trơ”? Chúng tôi, nhân dân Việt Nam đều cảm nhận được âm mưu, thủ đoạn của một thế lực thò tay vào bộ lịch sử (cả bộ 15 tập và bộ quốc sử). Đặc biệt, trong clip, ông Hà nói, bộ quốc sử viết ra “cho các tầng lớp nhân dân đọc, không phải chỉ cho nhân dân miền Bắc, hay cho cán bộ, đảng viên đọc”. Có ý gì đây? Ông không biết hay ông ngụy ngôn? Ý ông là bộ quốc sử viết cả cho những người là “nhân dân” ngụy quân, ngụy quyền chấp nhận ư? Ông sai lầm rồi? Ông là nhà sử không lẽ ông không biết được rằng trong thời gian 1954 - 1975, nhân dân miền Nam có bao nhiêu % ủng hộ cái chế độ thối nát, phản bội, tay sai ngụy quân, ngụy quyền? Nếu số người ủng hộ ngụy quyền nhiều đến mức đóng vai trò quyết định cho việc ra đời của bộ quốc sử thì ông đang sĩ nhục nhân dân miền Nam rồi. Ông hãy nhớ: Người miền Nam, miền Bắc và cả dân tộc này chấp nhận hi sinh để đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Chiến công lịch sử giải phóng miền Nam là do nhân dân Việt Nam, trong đó có công lao to lớn, quyết định của nhân dân miền Nam lập nên cho đất nước này. Nhân dân miền Nam đã không ủng hộ chế độ VNCH và kẻ xâm lược, họ đã quyết mở đường đón cộng sản vào để cùng với họ chiến đấu, đánh đổ VNCH. Bởi họ hiểu được nỗi đau do chế độ ngụy quân, ngụy quyền đem đến cho họ. Và ông cũng phải tự hỏi: hôm nay trong hơn 90 triệu dân thì có bao nhiêu % trong đó ủng hộ ngụy quân, ngụy quyền? đến vài triệu không? Hãy hỏi khoảng 5 triệu kiều bào ở nước ngoài thì bao nhiêu % trong đó ủng hộ ngụy quân, ngụy quyền trở lại? Chỉ thế thôi cũng đã nhận ra, cái lý do chính danh cho VNCH trong bộ quốc sử như ông Hà nói trước công luận là sự lừa dối, là ngụy ngôn.

Cổ nhân đã dạy: “Vì sao phải viết quốc sử? Vì sử chủ yếu ghi chép công việc. Có chính trị của một đời tất phải có sử của một đời. Mà sự ghi chép của sử giữ nghị luận rất nghiêm, tô điểm việc trí trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời mặt trăng, răn đe kẻ loạn tặc thì ráo riết như sương thu lạnh buốt, người thiện biết thì có thể bắt chước, người ác biết thì có thể tự răn, quan hệ với chính trị không phải là ít. Cho nên mới làm ra quốc sử”. Còn một số nhà viết sử như ông Hà, ông Cường lại dùng ngụy ngôn, ngụy tâm, bẻ cong ngòi bút để đánh tráo lịch sử, xóa nhòa thiện - ác, biến chính sử thành ngụy sử, làm cho lịch sử không còn chức năng soi tỏ trí trị, răn đe kẻ loạn tặc.
Còn nữa….


Thứ Ba, 20 tháng 11, 2018

NGỤY QUÂN, NGỤY QUYỀN - DÙ RÊU PHONG PHỦ KÍN THÌ DANH XƯNG ẤY CŨNG KHÔNG THỂ THAY ĐỔI!


Bài 1: NHÀ SỬ HỌC NHƯNG THIẾU TRUNG THỰC LÀ BẤT NHÂN

Lê Thanh Minh

Trong những này qua, trên mạng xã hội đã có nhiều bài viết phản đối bài nói chuyện của ông giáo sư sử học Nguyễn Mạnh Hà khi ông ta thông tin về bộ quốc sử. Tôi đã xem đi, xem lại hai lần cái clip đó, cố gắng tìm ra cái lý thuyết phục trong bài nói của ông ta nhưng không thể. Tôi cũng nhận thấy, họ - những người làm bộ sử Việt Nam 15 tập và bộ quốc sử giống nhau ở cách quảng cáo cho sản phẩm trước khi nó ra đời, chỉ khác lần này là họ thực hiện chiến thuật mưa dầm, nhỏ lẻ qua các bài trả lời phỏng vấn và nói chuyện với truyền thông bằng tư cách không chính danh (như chính ông Hà đã nói trong buổi nói chuyện là để trao đổi, chứ không phải đăng báo).




Trong bài nói chuyện của ông Nguyễn Mạnh Hà đã bộc lộ rất nhiều điều vô lý của một nhà sử học cần có. Tôi sẽ làm rõ từng vấn đề này. Trước hết, ở bài này, tôi chỉ nói đến tính trung thực của ông ta và những người như ông ta. Tôi khẳng định, ông ta không trung thực. Mà nhà sử không trung thực thì ngòi bút cũng sẽ bị bẻ cong.

Thứ nhất, vào đầu bài, giữa bài, và cuối bài, ông Hà đã nhắc đi, nhắc lại rất nhiều lần là Hội đồng khoa học biên soạn và thành viên Hội đồng quán triệt tính toàn diện, khách quan, trung thực khi biên soạn bộ quốc sử theo chủ ý của cố giáo sư Phan Huy Lê. Há phải chăng, mọi sai lầm của ông ta và đồng nghiệp sau này trong bộ quốc sử nếu bị dư luận lên án đều có thể đổ lên đầu ông Lê? Tại sao bản thân ông ta và đồng nghiệp tự khoe mình là nhà khoa học sao lại không dám chứng minh tính khoa học, chân lý của những vấn đề do mình viết ra, trong đó có việc đổi cách gọi của VNCH? Phải chăng ông ta nhìn trước được hậu quả nên chọn cách đổ vấy cho ông Lê (khi ông Lê đã quá cố) để trốn trách nhiệm trong tương lai? Vậy tính trung thực của ông Nguyễn Mạnh Hà ở đâu?

Thứ hai, khi có người hỏi về ông Phan Huy Quát, thì ông Nguyễn Mạnh Hà lại trả lời rằng: Ông Phan Huy Quát là thủ tướng của VNCH trong một thời gian rất ngắn, là người thân, người họ hàng của Giáo sư Phan Huy Lê, không phải là anh em, chỉ là họ hàng thôi (ông ta chắc lại hai lần). Cái này thì một nhà sử học như ông không thể nói bừa, nói ẩu, nói sai được như thế. Phan Huy Lê là em trai cùng cha khác mẹ với Phan Huy Quát (thân sinh ra ông Quát và ông Lê là Phan Huy Tùng, Lang trung Bộ Hình triều Nguyễn. Sự thật sáng hơn cả mặt trời vậy mà ông dám đổi trắng thay đen rằng họ là “họ hàng thôi”. Tính trung thực của một nhà viết sử như ông sao rẻ rúng vậy?

Thứ ba, ông Nguyễn Mạnh Hà lại khẳng định: trong bộ quốc sử sẽ thay đổi danh xưng ngụy quân, ngụy quyền, nhưng khi trích câu nói của Bác Hồ hay văn kiện lịch sử Đảng vào trong bộ quốc sử về vấn đề này thì vẫn giữ nguyên tên gọi ngụy quân, ngụy quyền. Lạ nhỉ? Bộ quốc sử và lịch sử Đảng nếu nói đến tính chất thì cái nào bao trùm? Cái nào thể hiện danh dự quốc gia như ông nói? Lịch sử Đảng cũng là một phần lịch sử của đất nước, các ông dám thay đổi lịch sử trong bộ quốc sử nhưng lại không dám đề xuất sửa đổi trong lịch sử Đảng? Ông đang bảo vệ lịch sử hay đang cố tình xúc phạm Đảng và Bác Hồ? Tính trung thực của ông đâu?

Thứ tư, Lịch sử cần sự thật, vì lịch sử là bài học của hiện tại và tương lai. Nhưng ông Hà lại nói, trước 1975 gọi ngụy quân, ngụy quyền là đúng, còn từ sau 1975 đến nay thì không thể gọi như thế. Ông phải nhớ, ở giai đoạn lịch sử nào cũng, tầng lớp lãnh đạo, kể cả Đảng cộng sản Việt Nam cũng có những bước đi sai lầm nhất định, ví dụ như trong cải cách ruộng đất năm 1954. Vấn đề này cả Bác Hồ và Bộ Chính trị lúc bấy giời đã từng thừa nhận những sai lầm trong triển khai thực hiện chủ trương. Biết nhận ra sai lầm để sửa đổi là tính trung thực của phong cách lãnh đạo, của những người cộng sản chân chính. Bây giờ cũng phải đưa những chi tiết về những sai lầm và cách sửa sai đó vào lịch sử. Tôi đồng tình. Nhưng ngược lại các ông lại biến cái tội ác của chế độ ngụy quân, ngụy quyền thành công trạng khi ông Hà nói: Không nên dùng từ ngụy, từ “bù nhìn”, từ “tay sai”, mà gọi là “chính quyền”. Đây được gọi là tính trung thực sao? Tôi hỏi ông Nguyễn Mạnh Hà, vì theo lời kêu gọi “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” của Bác Hồ nên ông đã có mặt trong đoàn quân ấy để giải phóng miền Nam, bây giờ ông lại nói không thể gọi là ngụy, phải chăng ngày ấy ông đi giải phóng miền Nam là sai lầm, vì nó là một chính quyền chính danh, là một quốc gia? Vậy với góc nhìn khách quan của ông thì đâu là sự thật? Nòng súng của ông trong kháng chiến chống Mỹ - ngụy là sự thật hay ngòi bút của ông bây giờ là sự thật? Nòng súng và ngòi bút trên tay ông ở hai thời điểm lịch sử khác nhau sao một cong - một thẳng? Đâu là nguyên nhân của sự khác nhau? Hay do lương tâm của các vị không thật với lịch sử.

Có một chân lý rất đơn giản: chế độ tay sai, bù nhìn ngụy quân, ngụy quyền trong giai đoạn 1954 - 1975 dù thế hệ hôm nay (cách đó đã hơn 40 năm) hay 400 năm, 4000 năm sau nhìn về nó trong giai đoạn lịch sử đó thì nó vẫn là một chế độ tay sai, bù nhìn, phản quốc. Đó mới là sự thật, mới là trung thực của lịch sử.

Nếu hôm nay gọi ngụy quân, ngụy quyền là chính danh, là một thực thể, thừa nhận nó là một quốc gia thì một thời “xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước” của cha anh phải gọi như thế nào mới đúng, phải chăng chữ “cứu nước”, chữ “giải phóng” nên đổi cách gọi là “xâm lược”?
Còn nữa….



Thứ Ba, 11 tháng 9, 2018

Tư liệu: Một bức thư của Võ Đại tướng gửi ông Lê Đức Thọ


(St từ http://www.honvietquochoc.com.vn)
Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng mùa Xuân 1975 và thống nhất đất nước, Thiên Lý xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc một tư liệu quý: bức thư của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi ông Lê Đức Thọ, đề ngày 20-2-1988
Bức thư gồm hơn bốn trang đánh máy, nội dung trao đổi một số vấn đề liên quan đến việc tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử quân sự, (lúc bấy giờ có tổ chức hội thảo tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước) thư này cũng được gửi cho ông Viện trưởng Viện lịch sử quân sự, để lưu.
Hy vọng qua bức thư này, bạn đọc có thể hiểu biết sâu sắc hơn về nhân cách, về  trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của cố Đại tướng, đồng thời cũng có thể hiểu thêm về vài sự kiện lịch sử thú vị khác như Nghị quyết 15 được phôi thai ra sao, nguồn gốc chiến dịch Quảng Trị mùa Hè 1972 hoặc vấn đề lựa chọn điểm mở màn cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (Buôn Ma Thuột) đã được đặt ra từ năm nào? Qua mục đầu của bức thư này, ta cũng có thể biết thái độ của nước bạn (Trung Quốc) về vấn đề Hiệp định Giơ-ne-vơ (hoàn toàn không phải là “chủ chiến” như Trần Đĩnh nêu trong Đèn cù).
Tài liệu này nằm trong bộ sưu tầm các bài nói, bài viết của Đại tướng, do cụ Đại tá, tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan tập hợp, với mục đích là “lưu giữ trong tủ sách gia đình” để “tự nghiên cứu, học tập” (năm nay cụ Khoan cũng đã 86 tuổi hạc). Tuy vậy cụ cũng có hảo ý “không dám từ chối bạn đọc nào muốn tham khảo” và nhờ vậy, tôi may mắn được tặng một bản coppy. Nhân đây, xin cảm tạ sự ưu ái của cụ
Do cái ipad của tôi không sạc được điện nên tạm thời chưa cung cấp được ảnh của tài liệu này, tôi sẽ chụp đưa lên bài viết sau(*).
Dưới đây gõ lại nguyên văn, kể cả những chỗ gạch dưới, từ bản chụp (coppy) của bản đánh máy. Tuy nhiên những đoạn tô màu đậm hơn là tôi cố ý nhấn mạnh.
“Ngày 20 tháng 2 năm 1988

Anh Sáu Thọ
Tôi đã xem bài nói của anh về “Một số vấn đề tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử quân sự”. Anh đã nói rõ, đây là quan điểm cá nhân, không thể nói là của Bộ Chính trị mà cũng chưa phải là được tập thể tổng kết
Cậu Nhân nói anh muốn tôi phát biểu ý kiến. Từ lâu, tôi đã suy nghĩ nhiều về vấn đề được nêu ra, nhưng nay muốn phát biểu thì phải bàn bạc và trao đổi thêm với một số đồng chí lãnh đạo và chỉ huy lúc bấy giờ. Mà hiện nay, thì công tác trước mắt quá bận, chưa có thì giờ làm được.
Vì vậy, tôi chỉ nêu một số ý kiến để anh tham khảo
1)- Về vấn đề đánh giá tình hình và chủ trương của ta sau hội nghị Giơ - ne - vơ
Phải nói rằng tình hình bấy giờ khá phức tạp, tư tưởng hòa bình chủ nghĩa của bạn cũng khá mạnh.
Nhưng, Bác luôn nhắc nhở anh Trường Chinh và các đồng chí trong Bộ Chính trị phải theo dõi âm mưu thâm độc của kẻ thù, không được chủ quan. Tôi thấy sự sáng suốt của Bác và Bộ Chính trị biểu hiện rõ nhất là ở chỗ ngay lúc bấy giờ đã xác định kẻ thù cụ thể trước mắt của toàn dân là đế quốc Mỹ, phái thực dân Pháp phản hiệp định và bọn Ngô Đình Diệm, đế quốc Mỹ là kẻ thù đầu sỏ và nguy hại nhất.
Tôi nhớ lại trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đã có cuộc hội đàm giữa Bác và đồng chí Chu Ân Lai ở Liễu Châu. Trong cuộc hội đàm ấy, đồng chí Chu đã có bài phát biểu rất dài, dùng nhiều lý lẽ để thuyết phục ta cần dành cho được hòa bình, nói rất nhiều về những điều kiện thuận lợi đưa đến tổng tuyển cử thống nhất đất nước. 
Sau cuộc hội đàm ấy, trên đường đi tàu hỏa về nước, Bác và chúng tôi đã trao đổi ý kiến về cục diện sắp tới. Tôi đã nói với anh Trần Văn Quang: ta có trên 30 vạn quân, còn địch thì có những 45 vạn (anh Quang tính là 47 vạn), thì làm thế nào có thể tổng tuyển cử, có hòa bình thống nhất đất nước được. Chúng tôi đã trình bày ý kiến ấy với Bác. Và khi về nhà, nghe báo cáo lại nội dung cuộc hội đàm thì Bác và các anh đều cho rằng lời phát biểu và cách phân tách và dự đoán tình hình của đồng chí Chu là một chiều.
Do vậy, sau khi Hiệp định được ký kết, ta đã nêu ra nhiệm vụ phải đấu tranh để củng cố hòa bình, đòi thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ, nhưng đề ra 2 khả năng, có khi nói 3 khả năng, nhất là sau khi Mỹ lập ra khối SEATO, công nhiên phá hoại hiệp định.
Và rất sớm, Bác và Bộ Chính trị đã nhận định cuộc đấu tranh để thi hành hiệp định Giơ-ne-vơ là một cuộc đấu tranh cách mạng, sự nghiệp đấu tranh thống nhất là một nhiệm vụ cách mạng: đó là sự nghiệp tiếp tục và hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Lúc anh Ba ra, anh Ba tỏ ra rất đồng tình về điểm này và nói rất mừng về vấn đề xác định Mỹ là kẻ thù chính của cách mạng Việt Nam.
Bây giờ nhớ lại, tôi nghĩ rằng do có nhất trí ấy, cho nên vào cuối năm 1958, Bộ Chính trị đã giao cho tôi nhiệm vụ khởi thảo Nghị quyết 15 về cách mạng miền Nam. Tôi đã làm việc ấy với anh Hoàng Tùng và anh Trần Quang Huy trong khoảng 2 tuần lễ ở Đồ Sơn. Bản dự thảo đã được chuyển cho anh Ba xem lại, tôi nhớ về cơ bản không có thay đổi gì (nhất là về vấn đề bạo lực cách mạng, vấn đề về quan hệ giữa đấu tranh chính trị với khởi nghĩa và đấu tranh vũ trang trường kỳ) để trình ra Hội nghị Trung ương.
Trong cuộc thảo luận ở Hội nghị Trung ương, ý kiến của các anh trong Bộ Chính trị và phần lớn các đồng chí Trung ương đều nhất trí trên tất cả các vấn đề cơ bản, và Nghị quyết đã được thông qua với sự nhất trí cao
Anh cũng nhớ rằng chính theo tinh thần đấu tranh cách mạng phải dùng bạo lực ấy, mà sau khi trao đổi ý kiến với đồng chi Kayson, Trung ương Đảng ta đã có Nghị quyết giúp cách mạng Lào chuyển từ đầu tranh chính trị lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, về sau từng bước đưa đấu tranh vũ trang lên vị trí chủ yếu.
2)- Về chiến dịch Trị Thiên. Vấn đề giải phóng được Huế hay không, không phải là suy diễn theo cục diện chiến trường lúc bấy giờ: Ta đánh chính diện, tình hình rất khó khăn, nhất là lúc anh đang ở Paris, mấy lần điện về: (lúc nào có dịp sẽ nói chuyện thêm).

Vấn đề là phải đặt câu hỏi: nếu ta cứ giữ vững quyết tâm lúc đầu, lấy Trị Thiên làm hướng chủ yếu, tấn công vào Quảng Trị kết hợp với đánh vu hồi vào Huế (tập trung trung đoàn công binh anh hùng mở đường phía Tây Huế) thì có thể giải phóng được Huế hay không?

Trên thực tế, ta đã thay đổi quyết tâm đúng đắn ban đầu, đề ra quyết tâm thứ hai lấy Tây Nguyên làm hướng chủ yếu. Tôi và một số đồng chí cho rằng thay đổi quyết tâm như vậy là sai. Do đó, đã phân tán chủ lực và phân tán lực lượng công binh vào hướng Tây Nguyên. Đến khi giải quyết hậu cần không được, điều động lực lượng cũng khó, thì mới bị động chuyển lại lấy Quảng Trị làm hướng chủ yếu, lâm vào thế phải đánh chính diện, còn hướng vu hồi thì không mở ra được vì kế hoạch làm đường ở phía Tây Huế đã bị bỏ dở, do lực lượng công binh một phần lớn đã điều đi Tây Nguyên.
3)- Về vấn đề Buôn Ma Thuột thì trong Quân ủy không hề có cuộc tranh luận nên đánh Đức Lập hay đánh Buôn Ma Thuột. Kế hoạch đánh Đức Lập đã được đề ra từ trước, nhằm mở đường cho bộ đội chủ lực ta tiến vào Miền Đông Nam Bộ khi cần, tránh không phải đi qua lãnh thổ Căm-pu-chia.
Sau khi ta giành thắng lợi ở Phước Long, nhược điểm của địch bộc lộ rõ, thì toàn thể Quân ủy đều hạ quyết tâm đánh Buôn Ma Thuột. Hôm anh đến, Quân ủy đang bàn là bàn về cách đánh như thế nào để đảm bảo thắng lợi, đề ra hai phương án: trường hợp địch còn sơ hở chưa tăng cường và trường hợp địch đã tăng cường, cả hai phương án đều nhằm mục đích tiêu diệt địch và giải phóng Ban Mê Thuột. Tôi cũng đã đề cập đến khả năng địch rút khỏi Tây Nguyên nếu ta giành được thắng lợi lớn
Anh Dũng, anh Thái, anh Thảo đều nhất trí với kết luận của tôi.
Nhớ lại, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Nghị quyết 21 của Trung ương nói đến thời cơ lịch sử giải phóng miến Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Tôi đã đề ra với các đồng chí lãnh đạo khu V, khả năng giải phóng Tây Nguyên trước. Tôi cũng đã làm việc với anh Hoàng Minh Thảo về vấn đề này, xác định Buôn Ma Thuột là điểm yếu nhất, lại là địa bàn cơ động nhất ở Tây Nguyên (anh Thảo hiểu Tây Nguyên nên phân tách đúng và sắc) và từ lúc ấy đã có chỉ thị cho anh Thảo chuẩn bị chiến trường. Học viện quân sự cũng bắt đầu nghiên cứu phương án tác chiến
4)- Một số điểm khác về trận Tổng tấn công mùa Xuân 1975 nếu đưa ra bàn thì cũng còn có ý kiến. Lúc này, nên cố gắng ghi lại sự kiện lịch sử cho chính xác. Nếu muốn bàn thì nên có đủ các đồng chí lãnh đạo và chỉ huy chủ chốt lúc bấy giờ. Rất tiếc là anh Thái và anh Tấn không còn. Nhiều anh khác hiện cũng rất bận. Hay là ai có ý kiến như thế nào thì cứ viết ra cũng được, nói rõ là ý kiến của cá nhân mình
Thân
Văn”

(*) Bổ sung ảnh, ngày 18/3.


VỀ NGHỊ QUYẾT 15 - MỘT QUYẾT ĐỊNH CHIẾN LƯỢC


                                                                           TS Lê Trung Nguyệt

Cách đây 55 năm - năm 1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (HNTƯ15) khóa II đã thông qua một quyết định lịch sử: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”(1). Để đi tới quyết định chiến lược này, HNTƯ15 phải họp kéo dài thành hai đợt: đợt 1 từ ngày 12 đến 22-1-1959. Đợt 2: vào tháng 5-1959. Đề án hội nghị phải sửa chữa, bổ sung và hoàn thiện gần 30 lần, chưa kể thời gian chuẩn bị đề án đã mất hai năm ở miền Bắc và hơn ba năm ở miền Nam(2). Sự phức tạp và khó khăn này là do có những tác động chồng chéo, cả chủ quan và khách quan.
Hình ảnh của Về Nghị quyết 15 - một quyết định chiến lược
Sau Hiệp định Genève năm 1954, Mỹ đã lộ rõ nguyên hình “diều hâu”: thay chân Pháp, xúi giục chính quyền Diệm phá hoại hiệp định - không thực hiện tổng tuyển cử, thi hành chính sách thực dân mới ở miền Nam nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta như là một “mắt xích” trong chiến lược “Ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản” ở châu Á. Âm mưu thâm độc của Mỹ đã được Bác Hồ dự liệu từ trước. Ngày 8-5-1954, trong “Thư khen ngợi bộ đội, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào Tây Bắc đã chiến thắng vẻ vang ở Điện Biên Phủ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch”(3). Còn về công tác tư tưởng, Người đã chỉ đạo đồng chí Tố Hữu: “Chiến thắng Pháp rồi, phải nhớ trước mặt ta còn có kẻ địch hùng mạnh hơn, hung ác hơn, đó là đế quốc Mỹ”(4).
Tháng 8 năm 1954, đồng chí Lê Duẩn khi đó đang công tác ở Quảng Ngãi, đã nhận được lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào Nam để cùng với Xứ ủy Nam Bộ lãnh đạo phong trào cách mạng trong tình hình mới khi đất nước bị tạm thời chia cắt làm hai miền theo vĩ tuyến 17. Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Bác về âm mưu thâm độc của địch và từ thực tiễn đầy xương máu của phong trào quần chúng từ nông thôn tới đô thị trong cuộc đấu tranh chống “tố cộng” và “diệt cộng” của địch, qua nhiều lần trao đổi, tháng 8 năm 1956, đồng chí Lê Duẩn đã hoàn thành bản dự thảo “Đề cương cách mạng miền Nam” ngay tại căn nhà số 29 đường Huỳnh Khương Ninh, gần chợ Đa Kao (nay thuộc quận 1, TP.Hồ Chí Minh). Với tư duy chiến lược vượt trội của “ngọn đèn 200 nến”, đồng chí đã sớm đi tới chân lý: “Nhân dân ta ở miền Nam chỉ có một con đường là vùng lên chống Mỹ - Diệm, để cứu nước và tự cứu mình. Đó là con đường cách mạng. Ngoài con đường đó, không còn con đường nào khác”(5).
Vào cuối tháng 4 năm 1957, đồng chí Lê Duẩn đã được Bộ Chính trị và Bác Hồ điều ra Hà Nội. Đồng chí được phân công chủ trì công việc của Ban Bí thư và cùng một số đồng chí lãnh đạo khác chuẩn bị cho HNTƯ15. Sau khi đồng chí Lê Duẩn lên đường ra Bắc, Xứ ủy Nam Bộ đã cử đồng chí Phan Văn Đáng - Ủy viên Thường vụ Xứ ủy và đồng chí Phạm Văn Xô - Xứ ủy viên ra Hà Nội báo cáo tình hình và xin ý kiến Trung ương về chủ trương, đường lối cách mạng miền Nam. Tháng 8-1957, hai đồng chí ra tới Hà Nội, nhưng phải chờ từ đó tới qua năm 1958, đến tháng 1-1959 mới được dự họp “thảo luận ở tổ”. Trong đợt 1 của HNTƯ15 (mở rộng), “khi bàn về phương pháp tiến hành chiến tranh cách mạng miền Nam, có nhiều ý kiến nêu trong hội nghị:
- Loại ý kiến thứ nhất đề nghị vũ trang và tiến hành chiến tranh du kích, xây dựng căn cứ địa.
- Loại ý kiến thứ hai không đồng ý tiến hành đấu tranh vũ trang mà phải dựa vào pháp lý của Hiệp định Genève, đấu tranh bằng phương pháp hòa bình.
- Loại ý kiến thứ ba cho rằng phải khởi nghĩa nhưng làm từng bước”(6).
Sau HNTƯ15 đợt 1 không thấy kết quả, trong khi đó thì phong trào ở miền Nam lại đang trong cảnh “nước sôi lửa bỏng”, không thể chờ đợi hơn được nữa, hai đồng chí Phan Văn Đáng và Phạm Văn Xô đã xin về Nam. Đồng chí Lê Duẩn đã bố trí cho hai đồng chí tới chào Bác Hồ và nhắc: “Cứ nói hết tình hình miền Nam với Bác”(7). Trong cuộc gặp lịch sử này, Bác đã căn dặn hai đồng chí: “Các chú về báo cáo với Xứ ủy: nhất định không để cho địch tiêu diệt lực lượng cách mạng ở miền Nam. Một cấp ủy phải vừa có trách nhiệm với cấp trên; vừa phải có trách nhiệm với bên dưới mới đúng, thường người ta chỉ nhấn mạnh trách nhiệm với trên là không đúng. Trung ương ở xa, Xứ ủy vừa có trách nhiệm với Trung ương, vừa phải có trách niệm với Đảng bộ và nhân dân miền Nam”(8). Hai đồng chí đã trao đổi hai ngày với đồng chí Lê Duẩn trước khi trở lại chiến trường Nam Bộ. Đồng chí Lê Duẩn nhắn nhủ: “Bác nói thế rồi. Vậy các anh về báo cáo với Xứ ủy cứ thế mà làm!”(9).
Trong thời gian sau Hiệp định Genève năm 1954, tình hình quốc tế và trong nước đều có nhiều khó khăn và trở ngại. Ở Liên Xô nổi lên vấn đề “xét lại” và chủ trương “thi đua hòa bình” với Mỹ, lo ngại “một đốm lửa nhỏ” có thể gây “cháy rừng” - bùng lên thành chiến tranh lớn. Trung Quốc thì ủng hộ “trường kỳ mai phục”. Những quan điểm này đã tác động tới ta. Có ý kiến cho rằng: “Chúng ta kiên quyết đấu tranh lâu dài để thực hiện thống nhất nước nhà. Đó cũng tức là cuộc thi đua hòa bình giữa chế độ chính trị của miền Bắc và chế độ chính trị của miền Nam ở trong phạm vi một nước, đi đôi với cuộc thi đua hòa bình ở trên thế giới giữa chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ tư bản chủ nghĩa”(10). Trong thư “Gửi anh Mười Cúc và các đồng chí Nam Bộ ngày 7-2-1961”, đồng chí Lê Duẩn nhắc lại: “Hồi ấy, có đồng chí đề nghị không nên đấu tranh vũ trang vì sợ rằng dùng lực lượng vũ trang sẽ có hại cho việc đấu tranh đòi các quyền tự do, dân chủ. Nhưng tôi đã trình bày, đã nói rõ sự cần thiết phải xây dựng lực lượng vũ trang”(11).
Vào tháng 12-1958, đồng chí Nguyễn Văn Linh - Bí thư Xứ ủy Nam Bộ đã nhận được đơn thư của hàng chục lão nông tỉnh Thủ Dầu Một chất vấn: “Xứ ủy có báo cáo để Bác Hồ và Trung ương biết tình hình miền Nam hay không mà chịu khoanh tay, để địch đàn áp bừa bãi, muốn giết ai chúng chỉ cần vu cho người đó là cộng sản”(12). Nhân dân xã Hòa Hội, tỉnh Tây Ninh đã ký tên vào bức tâm thư gửi lên Bác Hồ báo cáo: “Nhân dân bị khủng bố, cán bộ bị giết hại, xin cho bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc trở về đánh giặc, cứu dân”(13). Trong một cuộc mít tinh, có cụ già nghẹn ngào, uất ức nói với đồng bào: “Bác Hồ ơi! Mỹ - Diệm nó ác độc quá lắm rồi. Bác cho phép đồng bào bắn nát đầu chúng nó”(14).
Lật lại Biên niên sử của Đảng, có thêm một sự kiện đáng lưu ý là: sau khi BCHTƯ đã có “Thông cáo HNTƯ15 (mở rộng) của Đảng Lao động Việt Nam về kiểm điểm tình hình và đề ra nhiệm vụ đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà” - đăng trên báo Nhân Dân ngày 14-5-1959, nhưng Nghị quyết Trung ương 15 vẫn chưa được phổ biến kịp thời cho Xứ ủy Nam Bộ để quán triệt và thực hiện, trong khi kẻ địch đang khủng bố những người yêu nước kháng chiến rất tàn bạo theo đạo luật phát xít - Luật 10/59 được Ngô Đình Diệm ban hành từ tháng 5-1959.
Từ yêu cầu của thực tiễn phong trào và từ tinh thần của bản “Đề cương cách mạng miền Nam”, trong các ngày 4, 17, 25-6-1959, Xứ ủy Nam Bộ đã liên tiếp điện gửi BCHTƯ Đảng, báo cáo về tình hình địch tăng cường khủng bố ở Tây Nam Bộ và khẳng định: “Sự đàn áp khốc liệt của địch làm cho nhân dân Nam Bộ không còn con đường nào khác phải vùng lên chống lại đế quốc Mỹ và tay sai”(15).
Ngày 25-9-1959, Bộ Chính trị đã gửi điện trả lời Xứ ủy Nam Bộ một số vấn đề, trong đó có chỉ đạo: “…2. Quá trình giải phóng dân tộc phải tiến lên đấu tranh vũ trang, nhưng hiện nay chưa phải là phát động chiến tranh du kích, dù là cục bộ…”(16). Nhưng thực tiễn phong trào cách mạng sinh động ở miền Nam đã diễn ra theo logic khác. Đó là logic “tồn tại hay không tồn tại” dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo sát sao của Xứ ủy Nam Bộ. Nhớ lời Bác và đồng chí Lê Duẩn căn dặn theo truyền đạt của hai đồng chí Phạm Văn Xô và Phan Văn Đáng khi xin về Nam sau đợt họp đầu tiên của HNTƯ15 nhưng chưa có kết quả, tập thể Xứ ủy Nam Bộ đứng đầu là Bí thư Nguyễn Văn Linh đã nêu cao tinh thần dám chịu trách nhiệm trước Đảng và trước nhân dân, chủ động và sáng tạo, một mặt tiếp tục báo cáo, kiến nghị với Trung ương về chủ trương đấu tranh vũ trang, mặt khác, luôn bám sát cơ sở để chỉ đạo phong trào quần chúng đấu tranh với địch.
Một trong các trận đánh tiêu biểu là ngày 26-9-1959, tiểu đoàn 502 và đại đội Bảy Phú có tăng cường một tổ của đại đội Năm Bình - bộ đội địa phương của tỉnh Kiến Phong đã đánh thắng một cuộc hành quân càn quét cấp trung đoàn của địch vào Giồng Thị Đam và Gò Quản Cung là những địa điểm nằm sâu trong vùng Đồng Tháp Mười, giáp ranh hai quận Hồng Ngự và Thanh Bình, tiêu diệt 12 tên, bắt sống 105 tên, thu 7 trung liên, 120 tiểu liên, 12 máy bộ đàm và nhiều đạn dược. Chiến thắng này đã cổ vũ nhân dân Trung Nam Bộ nổi dậy Đồng khởi. “Tức nước vỡ bờ”, quân và dân ở nhiều địa phương Nam Bộ đã vùng lên, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, chống địch càn quét, phá tan bộ máy ngụy quyền ở cơ sở, giành quyền làm chủ và xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Ngày 11-10-1959, Xứ ủy Nam Bộ lại điện gửi BCHTƯ Đảng kiến nghị phát động đấu tranh vũ trang, duy trì và mở rộng căn cứ địa cách mạng. Xứ ủy đề nghị: 
“- Đề nghị xem lại ý kiến trong bức điện trước của Trung ương cho rằng: “Hiện nay chưa phải là phát động du kích chiến tranh dù phát động cục bộ”. Xứ ủy cho rằng nên phát động đấu tranh vũ trang ngay.
- Đề nghị tổ chức cuộc họp giữa Xứ ủy Nam Bộ và Liên khu ủy Khu V để trao đổi tiến hành kế hoạch phối hợp hoạt động cho ăn khớp… Nếu Trung ương Đảng xúc tiến việc lập Trung ương Cục miền Nam để lãnh đạo đấu tranh thì tốt nhất.
- Đề nghị Trung ương Đảng bổ sung gấp cho Nam Bộ một số cán bộ quân sự…”(17).
Thực tế sau này đã cho thấy đó là những đề nghị hết sức kịp thời, sáng suốt, đầy trách nhiệm trước Đảng và sinh mạng của nhân dân, đồng thời có tính khả thi rất cao. Nhưng ngày 20-10-1959, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra chỉ thị về phương hướng công tác trước mắt của Đảng Bộ Nam Bộ, trong đó nhấn mạnh: “…chủ yếu là cố gắng giữ phong trào, tiếp tục lấy đấu tranh chính trị của quần chúng làm căn bản để chống chính sách khủng bố tàn bạo và âm mưu chuẩn bị chiến tranh của địch… Hạn chế của Trung ương Đảng là vẫn chủ trương giới hạn hoạt động của lực lượng vũ trang chỉ có tính chất “chiến thuật nhất thời”, coi là “sai lầm” nếu mở rộng hoạt động vũ trang”(18).
Ngày 24-10-1959, Xứ ủy Nam Bộ đã có hai bức điện liên tiếp gửi BCHTƯ Đảng báo cáo tình hình phong trào đấu tranh ở miền Tây Nam Bộ và tiếp tục đề nghị đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Xứ ủy đã nêu rõ: “… Địch tập trung quần chúng chứng kiến những cuộc tra tấn, hành quyết những người cách mạng bằng các hình thức khủng khiếp như mổ bụng, moi gan, cắt từng đoạn ruột, lóc thịt, móc mắt… để uy hiếp tinh thần nhân dân. Ở Long Mỹ chúng đem máy chém để giết người không cần xét xử… Những đợt khủng bố dồn dân, đuổi nhà, cướp đất đã làm hàng ngàn người dân vô tội bị chết, ruộng đất bị bỏ hoang dẫn đến nạn đói trầm trọng trong nhân dân…
Trong 6 tháng đấu năm 1959, có tất cả 3.475 cuộc đấu tranh tương đối tập trung…, số cuộc đấu tranh chống khủng bố gấp đôi số cuộc đấu tranh suốt năm 1958.
Chính sách độc tài phát xít của Mỹ - Diệm làm cho phong trào cách mạng bị thiệt hại nặng nề. Chậm nổi dậy đấu tranh ngày nào, cách mạng sẽ bị thiệt hại thêm ngày đó. Yêu cầu nổi dậy đấu tranh vũ trang của quần chúng vô cùng bức xúc.
Chính vì vậy, Xứ ủy Nam Bộ tiếp tục đề nghị Trung ương Đảng khẩn trương nghiên cứu tình hình, cho phép đấu tranh vũ trang. Chỉ có như vậy mới bảo vệ được lực lượng cách mạng miền Nam và chuyển từ thế bị động sang thế chủ động, mới có thể đánh bại được kẻ thù hung ác, tàn bạo”(19).
Tuy nhiên phải tới 20 ngày sau - ngày 14-11-1959, Ban Bí thư Trung ương Đảng mới điện toàn văn Nghị quyết HNTƯ15 cho Xứ ủy Nam Bộ. Sau đó, giữa tháng 11-1959, Xứ ủy Nam Bộ triệu tập Hội nghị lần thứ tư tại vùng căn cứ Trảng Chiêng, Tây Ninh do đồng chí Nguyễn Văn Linh chủ trì, nhằm quán triệt nghị quyết của Trung ương đối với cách mạng miền Nam(20).
Từ tiến trình khách quan của các sự kiện lịch sử, có thể thấy hai sự chậm trễ: chậm trễ kéo dài gần ba năm (tính từ tháng 7-1956 khi Mỹ - Diệm hủy bỏ tổng tuyển cử) mới đi tới Nghị quyết 15 (tháng 5-1959) và chậm trễ kéo dài 6 tháng (từ tháng 5 tới tháng 11) mới phổ biến nghị quyết này cho Xứ ủy Nam Bộ. Sự chậm trễ trong chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng ở miền Nam có nhiều nguyên nhân, trong đó có “nhận thức mơ hồ về bản chất của chủ nghĩa đế quốc, cũng như các vấn đề về chiến tranh và hòa bình, vai trò của vũ khí hạt nhân, chung sống hòa bình, thi đua kinh tế, quá độ hòa bình v.v…; có tư tưởng hòa bình chủ nghĩa…, có lúc lặp lại hoặc phổ biến tư tưởng sai lầm của chủ nghĩa xét lại”(21). Chỉ trong 4 năm (1955-1958), 9/10 số cán bộ, đảng viên đã bị tổn thất. Riêng Nam Bộ chỉ còn 5.000 đảng viên so với 60.000 đảng viên trước đó. Ở đồng bằng Liên khu V, có khoảng 40% tỉnh ủy viên, 60% huyện ủy viên, 70% chi ủy viên bị địch giết hại, 12 huyện không còn cơ sở Đảng(22). Tính riêng ở hai tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng, trong ba năm từ 1957 đến 1959, gần một vạn cán bộ, đảng viên đã bị giết, tù đày. Ở Bến Tre, 17.000 người bị bắt, tù đày và bị đánh đập đến tàn phế, 100 cán bộ bị thủ tiêu bí mật. Có nhiều xã không còn chi bộ Đảng, nhiều xã chỉ còn một vài đảng viên. Tại trại giam Phú Lợi ở Thủ Dầu Một có 6.000 người, kẻ thù đã đầu độc làm cho 1.000 người chết ngay, 4.000 người bị trúng độc nặng(23).
Tuy có sự chậm trễ, nhưng Nghị quyết Trung ương 15 khóa II đã đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của cách mạng miền Nam và nhanh chóng biến thành Phong trào Đồng khởi rộng khắp, tạo ra bước phát triển mới làm thất bại từng bước cuộc “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam và do đó đã tạo đà cho các thắng lợi tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Để tiếp tục khẳng định tầm vóc lịch sử của nghị quyết này, “Thông báo về các kết luận Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII” tháng 7-1997 đã chỉ rõ: “Nghị quyết 15 của Trung ương khóa II là sản phẩm trí tuệ của toàn Đảng, của tập thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị khóa II, xuất phát từ những định hướng chiến lược đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tháng 7-1954 khi hòa bình vừa mới lập lại trên một nửa đất nước, có sự trực tiếp chỉ đạo công phu của đồng chí Lê Duẩn, quyền Tổng Bí thư lúc bấy giờ, cùng một số đồng chí trong Bộ Chính trị và trong Trung ương. Nghị quyết phản ánh đúng nguyện vọng của đồng bào, đồng chí ở miền Nam nước ta lúc đó”(24).
55 năm đã trôi qua, nhưng bài học về Nghị quyết 15 khóa II của BCHTƯ Đảng vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời sự cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay. Đó là tư duy cách mạng tiến công, độc lập tự chủ và sáng tạo, “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh... Trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”(25). Đó là bản lĩnh cách mạng kiên cường dám vượt lên sự chèn ép, lôi kéo và chi phối của các nước lớn trong ván bài lợi ích và cạnh tranh chiến lược giữa họ với nhau. Đảng lãnh đạo cũng “như người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bến bờ hạnh phúc của nhân dân”(26). Để làm được điều đó, phải thường xuyên nâng cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh “khắc phục những khuynh hướng sai lầm hữu và “tả” trong nội bộ Đảng”(27). Đồng thời phải thực hiện nghiêm chỉnh lời dạy của Bác Hồ: “Tuyệt đối trung thành và thật thà với Đảng, không giấu diếm, xuyên tạc sự thật và cũng không dung túng cho ai giấu diếm, xuyên tạc sự thật với Đảng”(28).

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB CTQG, HN, 2002, t.20, tr.82. 
(2) Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ Đảng: Lê Duẩn và Cách mạng Việt Nam, NXB CTQG, HN, 2007, tr.68. 
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, NXB CTQG, HN, 1996, tr.272. 
(4) Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Những mốc son lịch sử, NXB CTQG, HN, 2010, tr. 557. 
(5) Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ Đảng: Lê Duẩn và Cách mạng Việt Nam, NXB CTQG, HN, 2007, tr.221. 
(6) Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), NXB CTQG, HN, 2008, tr.197. 
(7) Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ Đảng: Lê Duẩn và Cách mạng Việt Nam, NXB CTQG, HN, 2007, tr.69. 
(8) Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), NXB CTQG, HN, 2008, tr.203 (TG in đậm). 
(9) Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ Đảng: Lê Duẩn và Cách mạng Việt Nam, NXB CTQG, HN, 2007, tr.69. 
(10) Báo Nhân Dân, ngày 12-7-1956, tr.3. 
(11) Lê Duẩn: Thư vào Nam, NXB QĐND, HN, 2005, tr.8 (Mười Cúc là đồng chí Nguyễn Văn Linh). 
(12), (13) Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), NXB CTQG, HN, 2008, tr.190. 
(14) Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), NXB CTQG, HN, 2008, tr.191 (TG in đậm). 
(15) Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), NXB CTQG, HN, 2008, tr.208-209 (TG in đậm). 
(16) Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), NXB CTQG, HN, 2008, tr.210-211 (TG in đậm). 
(17) Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), NXB CTQG, HN, 2008, tr.212-215 (TG in đậm). 
(18) Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), NXB CTQG, HN, 2008, tr.216-218 (TG in đậm). 
(19) Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), NXB CTQG, HN, 2008, tr.218-221 (TG in đậm). 
(20) Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), NXB CTQG, HN, 2008, tr.223. 
(21) Văn kiện Đảng toàn tập, NXB CTQG, HN, 2003, tr.782. 
(22) Phong trào Đồng khởi - 50 năm nhìn lại, NXB CTQG, HN, 2010, tr.7. 
(23) Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Những mốc son lịch sử, NXB CTQG, HN, 2010, tr.483. 
(24) Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Những mốc son lịch sử, NXB CTQG, HN, 2010, tr.485. 
(25) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, NXB CTQG, HN, 2009, tr.47-48. 
(26) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, NXB CTQG, HN, 2009, tr.165.
(27) Văn kiện Đảng toàn tập, NXB CTQG, HN, 2003, tr.779. 
(28) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, NXB CTQG, HN, 1996, tr.203.