Thứ Năm, 3 tháng 5, 2018

SỰ NGỤY BIỆN VÀ GIẢ NGÂY NGÔ KHI ĐÒI CÔNG NHẬN NGỤY QUYỀN LÀ CHÍNH QUYỀN

Ngây ngô về lịch sử hay sự ngụy biện?

Lê Minh

    Nhớ cách nay hơn 1 tháng, nick Thanh Minh có đưa ra ý phản biện về luận điệu của ông sử tên Giang khi bảo vệ cho luận điệu bỏ chữ ngụy, rằng "cần tạo ra môi trường tự do học thuật trong ngành sử". Cái ý kiến nghe hài hước, thiếu trách nhiệm, vô lương tâm của một nhà sử học. 

       Trong phần bình luận thì bác Long Lê có đăng ý kiến của ông Trần Đức Cường về việc nhắc lại tình huống ông Trần Văn Hữu, Thủ tướng Quốc Gia Việt Nam, là "ông ta tuyên bố chủ quỳên của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội nghị Fransico năm 1951". Theo ông Cường, phải xem Quốc gia Việt Nam là một nhà nước chính danh để có cơ sở pháp lý chủ quỳên liên tục của VN đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


       Hôm đó Hoàng Ngân Thương, anh Hoàng Tiến Phương, cùng các bác chống xét lại lịch sử muốn Thanh Minh viết bài để phản biện với ý kiến của ông Cường. Hôm nay tôi mạo muội có ý kiến thế này: luận điệu của ông Trần Đức Cường hoặc là ngụy biện hoặc là giả ngây ngô.

     1. Đó là sự ngụy biện. Theo tư duy logic,  ý ông ta và những người như ông ta muốn chính danh Quốc gia Việt Nam là nhà nước vì VNCH là kế thừa của Quốc gia Việt Nam, nên khi đã chính danh được cho QGVN, thì theo tính nối tiếp, đương nhiên VNCH sẽ là chính danh, và đương nhiên khi đó từ ngụy quân, ngụy quỳên sẽ vô nghĩa với VNCH. Đúng là kiểu ngụy biện, xảo quỵêt.

     2. Hay ông Cường giả bộ ngây ngô về lịch sử. Tại sao ư? Vì thật ra cái gọi là QGVN chỉ là "giải pháp Bảo Đại" của thực dân Pháp để quay lại đô hộ Việt Nam. Pháp đưa Bảo đại lên làm Quốc trưởng, nhưng không có quốc hội, không có quân đội, không có lãnh thổ, không có gì cả, tất cả những gì thuộc miền Nam lúc bấy giờ đều trong tay Pháp, quyền hành thuộc về Pháp, Bảo Đại và chính phủ của ông ta chỉ là bù nhìn, tay sai. Hỏi làm sao được gọi là chính danh nhà nước? Hơn nữa, khi mà trước đó, năm 1945, chính Bảo Đại đã trao ấn kiếm cho Chính phủ VNDCCH của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và nhà nước VNDCCH đã chính danh từ đó trong lãnh đạo đất nước Việt Nam và liên tục suốt chiều dài lịch sử đến nay. Trong thực tế QGVN là nguỵ.

       Sự ngây ngô giả bộ của ông Cường và những người như ông ta còn ở chỗ: Hội nghị quốc tế liên quan đến pháp lý của Việt Nam đối với Hoàng sa, Trường sa không quyết định ở Hội nghị Francsico được, mà phải quay lại từ các hội nghị trước đó là Hội nghị ra Tuyên bố Cairo năm 1943; Hội nghị Postdam năm 1945, tại hai hội nghị này, các nước tham gia hội nghị và cả Trung Quốc đều không khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng sa và Trường sa. Còn Hội nghị Francsico năm 1951, khi mà ông Trần Văn Hữu tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng sa và Trường sa thì tiếng nói này không có trọng lượng bởi hai lễ: Thứ nhất, mọi quyền hành và trọng lượng khẳng định vấn đề Việt Nam nằm trong tay thực dân Pháp; thứ hai, tại Hội nghị này thì không có Trung Quốc tham dự, vậy thử hỏi bây giờ đưa cái hội nghị này ra làm pháp lý chủ quyền cho Việt Nam đối với Hoàng sa, Trường sa thì Trung quốc có chịu không? Đừng ngây ngô, ảo tưởng. Khẳng định chủ quyền và đòi lại Hoàng sa phải phụ thuộc vào yếu tố quyết định là sức mạnh tự cường của chính dân tộc Việt Nam.

Tôi chỉ xin có thiển kiến nhỏ, mong mọi người cho ý kiến.

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2018

BỎ CHỮ NGUỴ - KHÔNG ĐƠN GIẢN ĐẾN THẾ

TẠI SAO BỎ CHỮ NGUỴ QUÂN, NGUỴ QUYỀN?
NÓI NHIỀU NHƯNG VẪN PHẢI NÓI:

Bỏ chữ nguỵ không đơn giản đến thế?
Lịch sử đóng đinh cho lũ hại dân
Lịch sử gọi tên với đám phản Nước
Ai bỏ đi, ai cho phép bỏ đi:
Vấy bẩn lương tri, đi ngược đạo lý

Lê Minh tôi định phân giải cùng mọi người về bức xúc của mình đối với âm mưu xét lại lịch sử, nhất là việc cổ suý bỏ chữ nguỵ quân, nguỵquyền trong lịch sử khi nói đến lũ bán nước, hại dân VHCH. Nhưng bắt gặp bàiviết của tác giải Hoàng Hiền, dù không biết là ai, song bài viết có nhiều điều để ta suy ngẫm. Tôi mời mọi người đọc để chúng ta tiếp tục cuộc đấu tranh với những âm mưu xét lại lịch sử của dân tộc:
Hoàng Hiền - Trước tiên tôi xin phân tách với quí vị về từ ngữ NGUỴ. Nguỵ không phải là một tên gọi, mà nó là một tính từ biểu đạt tính chất hoặc bản sắc của một nhân vật hay một tổ chức. Chúng ta không nên nhầm lẫn tính từ Nguỵ và danh từ Chính quyền.
Một chính quyền mà không có bản sắc thì có khác nào vật dụng phế thải bị vất một góc trong nhà kho. Cho nên mỗi khi đề cập hay phê phán một chính quyền đặc biệt nào đó người ta luôn luôn kèm theo một tính từ nói lên bản sắc của nó: chính quyền hợp hiến, hợp pháp…chính quyền bất hợp hiến, bất hợp pháp, chính quyền nô lệ, chính quyền tay sai vv…gom chung lại là chính quyền nguỵ. Nguỵ có nghĩa là giả, không chính danh, không trung thực chứ không phải là không có.
Nguỵ Quyền hay không Nguỵ Quyền
1. Quốc gia Việt nam do Pháp dựng lên và đem Bảo Đại đăt lên ngôi Quốc trưởng không ngoài mục đích tái đô hộ Việt nam như trong thời các vua triều Nguyễn. Bản thân của Bảo Đại đã thoái vị và đã trao ấn kiếm cho đại diện của ông Hồ Chí Minh. Như vậy chính quyền của ông Hồ mới là chính danh đại diện cho toàn dân Việt nam, còn Quốc gia Việt nam sau này cũng không chính danh.
2. Thủ tướng Ngô Đình Diệm (26 tháng 10 năm 1955 – 2 tháng 11 năm 1963) là do TT. Truman và hồng y Spell dàn dựng lên hất chân Bảo Đại và thành lập đệ nhất VNCH. Như vậy VNCH cũng chỉ là sản phẩm của Mỹ và Vatican chứ không phải của nhân dân Việt nam nên đó là chính quyền không chính danh đối với dân tộc ta.
3. Mỹ bật đèn xanh cho tướng lãnh miền Nam sát hại và lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm để thành lập Đệ nhị VNCH (1967-75). Chúng ta ai cũng thấy rõ Đệ nhị VNVH tiếp nối bản sắc lệ thuộc Mỹ còn đậm hơn Đệ nhất VNCH. Mọi quyết định của hai chế độ này đều tuỳ thuộc vào Vatican và Mỹ như chính những cấp lãnh đạo miền Nam sau này thú nhận, cũng như tài liệu của Mỹ được bạch hoá. Với bản sắc như thế thì ngoài từ “nguỵ” không còn từ nào diễn tả chính xác hơn.
Tôi đồng ý với nhiều anh chị về một tổ chức sở hữu và điều hành chính trị, hành chính, kinh tế, tài chính, quân đội vv….là một thực thể chính trị. Tuy nhiên đã bỏ sót một yếu tố cực kỳ quan trong đó là bản sắc của thực thể chính trị đó như thế nào. Khi bỏ đi bản sắc của một chính quyền thì ai cũngcó thể đánh đồng và xem nó tốt ngang hàng với bất kỳ chính quyền nào.
Trường hợp xem chính quyền nguy miền Nam ngang hàng với chính quyền do bác Hồ lãnh đạo, được Bảo đại nhường ngôi thì quả là phế bỏ đi xương máu của quân dân Mặt trận Giải Phóng miềm nam và công lao vượt Trường sơn bán mạng dưới làn bom dây B52 của biết bao thanh niên Bộ đội Cụ Hồ.
Viết lịch sử là để cho thế hệ mai sau “ôn cố tri tân”, phân biệt được cái đúng cái sai hầu tránh vết xe đổ, an tâm xây dựng tương lai đất nước.
Mong rằng các nhà viết sử phân biệt đúng sai minh bạch. Không nên bỏ đi “bản sắc” để bị người ta lợi dụng đánh đồng tốt xấu đang xen khiến cho thế hệ mai sau rơi vào đám sương mù không phân biệt được thế nào là yêu nước thương dân thế nào là tay sai phản quốc.

Chính kẻ cha đẻ và những kẻ chính uỵ đã xác nhận bản chất nguỵ của VNCH

Bộ Sử 15 tập đã phạm phải điều cấm kỵ khi dám chính danh cho một chế độ phản nước, hại dân

Đừng lấy bất cứ lý do gì nguỵ biện cho việc bỏ chữ nguỵ, vì như thế là đang vực dậy bóng ma tội ác


Thứ Hai, 30 tháng 4, 2018

XÉT LẠI LỊCH SỬ VÀ BÓNG MA TRỞ LẠI

                                   Lê Minh

Nếu một ngày
Bóng ma trở lại
Đất nước sẽ ra sao?
Chiến tranh
   khói lửa
       binh đao
Ào ào như thác đổ!
Lê dân trăm họ
Đau khổ trăm đường
Tang thương, vấy máu?
Chẳng phải tôi điêu ngoa
Mà nhãn tiền thấy trước!

Vì hôm nay
Các ngươi
   những nhà lật sử
Mở cuộc xâm lăng
   đánh vào quá khứ
Quay lưng bội ước
Vấy bẩn lương tri
Đảo lộn trắng đen
Đạp lên đạo lý
Bằng xảo ngôn
    Phun ngọc từ miệng quỷ:
Nào là lịch sử
   phải được khách quan
sửa chữa sai lầm, nhân danh hoà hợp
Nào là ông cha thuở trước
Gọi nguỵ là khinh khi
        và hơi hướng miệt thị!
Là bất công và trái chân lý
Nào là hôm nay
   Vì ngoại giao nhà nước
chữ nguỵ kia phải được thay tên!

Phải nhớ rằng
Đất nước ta nghìn năm
Lịch sử là bản trường ca bất tử
Bao anh hùng ngã xuống
Cho đất nước đứng lên
Triệu liệt sỹ hy sinh
Cho Tổ quốc được sống
Những tượng đài
Hàng trăm nghĩa trang liệt sỹ
Hàng triệu ngôi mộ
     có danh và vô danh
Vẫn đỏ nhang, vẫn nghi ngút khói trắng
Từ đáy sông, rừng sâu, vực thẳm
Hương hồn chiến sỹ
Vẫn phơi gió nằm sương
Những người mẹ
   vẫn kiếm tìm đỏ mắt
"Vết thương lành
         nhưng chỗ cắt vẫn còn đau"
Xin hãy trả lại
Sự thật lịch sử!
Bởi lịch sử là máu
              và nước mắt
Là thớ thịt của Tổ quốc!
Là hương hồn bao người ngã xuống!


Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2018

TỔ QUỐC - DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM


       Lời đầu tiên, cho phép tôi gửi tới anh chị em chống phản động lời xin lỗi chân thành khi tôi lấy tiêu đề bài viết là khẩu hiệu phục quốc của nguỵ quân, nguỵ quyền, và cũng mong anh chị em đọc hết bài viết để thông cảm cho tôi việc hôm nay tôi bàn về khẩu hiệu này.
        - Khẳng định: Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày Chiến thắng của cả dân tộc Việt Nam, ngày non sông, gấm vóc được thu về một mối, ngày đánh dấu chấm hết cho cuộc xâm lược ban phát tự do, dân chủ của đế quốc Mỹ đối với đất nước ta, là ngày mà tay sai bán nước nguỵ quân, nguỵ quyền xuống mồ. Ngày 30/4 mãi mãi là mốc son chối lọi nhất trong lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam.
        - Thế nhưng, gần đây, một số sử gia, nhà văn, nhà ngoại giao lại có cái cách nhìn khác, ước muốn rất cao cả, đó là xem ngày 30/4 là ngày hoà hợp dân tộc. Họ còn đưa ra luận điệu, để hoà hợp được thì cần sự chân thành cả hai phía, không nên phân biệt thắng - thua, tránh miệt thị trong cách gọi, không nên khoét sâu lòng hận thù dân tộc. Thế là họ khuyên nhân dân Việt Nam không nên gọi “nguỵ quân, nguỵ quyền”. Ô hay! Khơi dậy hận thù không phải là người cộng sản nhé. Vì ngay từ khi cuộc chiến bắt đầu, người cộng sản (trực tiếp là Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân cả nước) xác định đây là cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tức là giải phóng miền Nam trong tay kẻ xâm lược Mỹ. Còn nguỵ quân, nguỵ quyền chỉ là tay sai, những kẻ phản bội. Mỹ cút thì nguỵ tất nhào. Không thể khác được. Vì lẽ đó, các vị sử gia không thể nhân danh hoà hợp, xoá bỏ hận thù để kêu gọi bỏ chữ nguỵ quân, nguỵ quyền. Những kẻ từng là nguỵ quân, nguỵ quyền càng không nên gào lên chữ hoà hợp vì chính các người gây thù, nuôi hận.
         Thôi không bàn về giọng điệu xét lại lịch sử của mấy bác có cái nhìn lệnh lạc, sai trái nữa. Vì với tôi, xét lại lịch sử là trọng tội, ngang tội phản bội Tổ quốc, vì lịch sử cũng là máu thịt của Tổ quốc, máu thịt của nhân dân. Tôi đi vào vấn đề chính đây.
        - Khi cả nước vui mừng kỷ niệm Ngày 30/4, thì những kẻ từng là nguỵ quân nguỵ quyền (tôi viết “từng là”, vì nó thuộc quá khứ, không thể khác, còn bây giờ có còn nguỵ nữa không thì phải xem hành động của các vị thôi) ở trong và ngoài nước lại xem đó là ngày quốc hận! Họ còn nhồi nhét vào đầu của thế hệ sau (F2, F3) của nguỵ quân, nguỵ quyền về ngày quốc hận, và khắc sâu vào tâm trí hộ sự hận thù mù quáng. Để khoét sâu hận thù dân tộc, họ đã trét son phấn lên bộ mặt nhằm che lấp bản chất bán nước, làm tay sai. Những kẻ từng là nguỵ quân, nguỵ quyền trong và ngoài nước đang cố làm sống lại khẩu hiệu “TỔ QUỐC - DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM” của VNCH, cái khẩu hiệu một thời được xem là biểu tượng “hết lòng phụng sự quốc gia” của họ. Nhưng nói thật, khi hỏi ai cắt nghĩa được khẩu hiệu kia thì khó tìm ra được câu trả lời. Vậy tôi cắt nghĩa cho các người hiểu nhé:
-> TỔ QUỐC: Bỏ qua khái niệm và không nói đến yếu tố chế độ chính trị, theo tôi Tổ quốc phải bao hàm thống nhất của ít nhất hai thành tố quan trọng bậc nhất là lãnh thổ và nhân dân gắn bó trên lãnh thổ đó. Thế nhưng, với nguỵ quân, nguỵ quyền, họ đã bán lãnh thổ, bán đứng nhân dân của mình, họ làm tay sai cho ngoại bang dày xéo lên lãnh thổ đất nước, băm vào da thị của Tổ quốc những vết chém ngang lưng, đào xới thân thể Tổ quốc bằng bom đạn của kẻ thù; họ làm hoa tiêu để nòng súng ngoại ban bắn thẳng vào nhân dân mình; chính họ lê máy chém giết hại đồng bào mình. Vậy cứ hỏi nguỵ quân, nguỵ quyền VNCH có Tổ quốc không? Tuyệt nhiên các người KHÔNG CÓ TỔ QUỐC.
-> DANH DỰ: Tôi hiểu đơn giản thôi, đó là niềm hạnh phúc, vinh dự, niềm kiêu hãnh của cá nhân khi được phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Nhưng các người đã chà đạp lên chính Tổ quốc Việt Nam, chà đạp lên chính niềm kiêu hãnh của mình. Các người không có Tổ quốc (như đã chứng minh ở trên) thì chẳng có niềm vinh dự nào, cái danh dự nào tồn tại. Và cái danh dự của các người là nguỵ biện, HƯ ẢO. Hơn nữa chính các người đã chọn sống nhục hơn chết vinh, các người đã tự biến mình thành đạo quân ô nhục nhất thế giới khi phải đu càng, làm kiếp vong nô thì đó phải gọi là NỖI NHỤC chứ danh dự cái nỗi gì?
-> TRÁCH NHIỆM: Chính là trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân, với xã hội, với gia đình, với người thân và với bản thân mình. Làm chim thì phải hót, làm lá thì phải xanh, làm người thì phải gánh vác trách nhiệm. Trách nhiệm của bản thân đối với Tổ quốc, với nhân dân, với chính bản thân phải được thể hiện bằng những việc làm chính nghĩa, lẽ phải, hợp đạo lý và có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân mình. Nhưng hãy bình tĩnh xem lại đi. Các người đã làm giì cho Tổ quốc, đất nước này? Những việc làm của nguỵ quân, nguỵ quyền các người đều phản trắc, bất nghĩa, hung tàn, đất không dung, trời không tha. Thử hỏi TRÁCH NHIỆM của các người có không?
- Kết luận: Từ nay đổi khẩu hiệu “TỔ QUỐC - DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM” thành “VÔ TỔ QUỐC - NỖI NHỤC - VÔ TRÁCH NHIỆM”.
Em hết ý kiến!

LÊ MINH

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2018

VIỆC NHÂN NGHĨA CỐT Ở NHÂN TÂM


 LÊ MINH (trích từ fb Đặng Nguyệt)
       
         Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị có phải là việc NHÂN NGHĨA của dân tộc Việt Nam ta không? PHẢI!
Chủ trương hoà hợp dân tộc có phải là việc NHÂN NGHĨA của Đảng, Nhà nước và dân tộc Việt Nam ta không? PHẢI
Chủ trương khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, đại đoàn kết dân tộc (cả trong và ngoài nước) để xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh có phải là việc NHÂN NGHĨA của dân tộc ta không? PHẢI!
Việc NHÂN NGHĨA ấy nhân dân ta có đồng lòng, đồng tâm và thực hiện không? CÓ!
Làm việc nhân nghĩa ấy có cần những con người có NHÂN NGHĨA và có tầm không? CHẮC CHẮN CÓ. Vì cha ông ta đã dạy, việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Mà để yên dân thì phải có nhân tâm.
Vậy, xin hỏi: Vì thực hiện Nghị quyết 36, vì để hoà hợp dân tộc, vì để nêu cao đại đoàn kết dân tộc nên đảo lộn lịch sử, xoá nhoà thiện ác, biến ma thành phật, biến nguỵ thành chính khi bỏ chữ nguỵ quân, nguỵ quyền thì có NHÂN TÂM không! CHẮC CHẮN KHÔNG!
Xin hỏi: Bỏ chữ nguỵ quân, nguỵ quyền, chính danh cho VNCH, tức là đánh đồng, xem nhẹ máu xương, sự hy sinh của anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh chống Mỹ - nguỵ, để giải phóng dân tộc, thống nhất giang sơn, như vậy có NHÂN TÂM không? CHẮC CHẮN KHÔNG!
Xin hỏi, một kẻ như Nguyễn Phương Hùng (ảnh), một tên nguỵ xảo trá, bại hoại nhân cách, lừa lọc, bản tính nguỵ (ai từng quen hắn, từng và đang sử dụng fb đều biết rõ con người hắn). Một con người mà khi người ta nghe đến tên, nhìn thấy mặt là buồn nôn; một tên nguỵ từng phát biểu phản đối Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết; một tên nguỵ từng đề nghị Nhà nước Việt Nam chu cấp trợ cấp cho phế binh VNCH, và đối xử bình đẳng giữa họ với người lính giải phóng quân(?!); một tên nguỵ đã tuyên bố không bao giờ yêu cộng sản; một tên nguỵ già lừa tình, lừa tiền của chị em phụ nữ; một tên nguỵ già dâm dục cởi quần chát sex với phụ nữa, kể cả vị thành niên là người Việt Nam… Một tên nguỵ già như Nguyễn Phương Hùng có xứng đáng đi đầu, gánh vác việc nhân nghĩa ấy không? CHẮC CHẮN KHÔNG! Vì hắn không đủ tư cách thu phục nhân tâm, thậm chí đang làm rối loạn nhân tâm.
Và, trong những ngày qua, tại sao một tên nguỵ già như hắn không đi làm việc nhân nghĩa, tích đức, tu thân, góp công vào cụ thể hoá Nghị quyết 36, chủ trương hoà hợp dân tộc bằng những việc làm chân chính, mà đi gặp các vị (nhà sử học Trần Đức Cường, Nhà sử học Phan Huy Lê, Cựu nhà ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn, ccb Đại tá Trần Hồng, ccb Nguyễn Ngọc Bái, ccb công an Trung tướng Nguyễn Hữu Ước….) và lôi kéo một số tên lưu manh như Đỗ Hữu Hằng, kẻ lừa đảo Hương Vi và một số người trẻ khác thành viên VHK nhằm kích động, giật giây cho việc ủng hộ bỏ chữ nguỵ quân, nguỵ quyền - cái việc đã và đang làm rối loạn nhân tâm thì làm sao gọi những việc đang làm của Nguyễn Phương Hùng là có NHÂN TÂM, và chính ông ta cũng không đủ tầm để làm việc đó.
Nhân đây xin hỏi câu cuối, là câu phụ: Tại sao các nhà lật sử không đi chứng minh tính đúng đắn cho việc bỏ chữ nguỵ quân, nguỵ quyền, mà lại để cho một thằng nguỵ già xảo trá, bại hoại nhân cách Nguyễn Phương Hùng dắt mũi kích động, la liếm, bảo vệ việc bảo chữ nguỵ quân, nguỵ quyền nhỉ? Vậy bỏ chữ nguỵ vì cái gì?
Anh chị em cho ý kiến!








Nguyễn Phương Hùng Một kẻ biến thái, bại hoạt nhân cách.

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2018

XIN ĐỪNG XÉT LẠI TIẾNG SÚNG NĂM XƯA


Em sinh ra, đất nước liền một dải
Khi cha em vừa bước ra khỏi cuộc chiến
Màu thuốc súng còn vương trên tấm áo
Khói chiến trường nhuốm màu tóc pha sương
Trên khuôn mặt vẫn còn vết cắt của gai rừng
Trái tim rỉ máu, đồng đội nơi chiến trường cô quạnh

Cha tôi và đồng đội, một thuở sức trai
Cứ thế xông lên, đầu không ngoảnh lại
Bởi phía trước là quân thù, là ngày chiến thắng
Và phía sau, bóng mẹ, dáng bà
Là trẻ thơ quằn quại trước nòng súng sói lang
Là quê hương bị dày xéo dưới gót quân xâm lược

Sau ngày đất nước thống nhất
Cha vẫn lặng thầm, lầm lũi
Kế mưu sinh, nuôi con khôn lớn
Mỗi chiều, khi mặt trời buông xuống
Tựa cửa trông xa, ánh mắt cha vời vợi
Mẹ biết cha nhớ thương đồng đội
Dẫu hoà bình, vẫn ôm súng nằm sương!

Mỗi lần con hỏi cha về những ngày chiến trường
Ánh mắt cha rực lên như có lửa
Cha mỉm cười, và bắt đầu câu chuyện nhỏ
Kể con nghe về những ngày gian khó
Thế hệ cha, trong tâm chưa một lần gợn sóng
Dù lửa cháy, bom gầm, đạn ít qua tai
……
Cha tôi và thế hệ cha tôi
Đã sống những ngày như thế
Đã trở thành quá khứ và một phần của lịch sử
Bằng chính máu, xương, tất cả những gì họ có
Xin đừng vô ơn, xét lại tiếng súng ngày hôm qua.

Một lẽ giản đơn ai ai cũng hiểu
Nòng súng trong tay cha tôi và đồng đội
Mỗi khi dương lên, làn đạn găm thẳng vào quân thù
Nếu xét lại, nòng súng ấy sẽ quay về đâu?

Quay về phía tôi?????

LÊ MINH





ĐỪNG QUÊN LỊCH SỬ


Ai có thể quên đi quá khứ
Quên sao đành lịch sử cha ông
Khác nào vứt bỏ tổ tông
Làm sao xứng đáng con rồng cháu tiên.

Dù vẫn biết bạc tiền quan trọng
Giữa dòng đời cuộc sống bon chen
Khinh chê nhau bởi chữ hèn
Nhưng quên lịch sử sao rèn tánh tâm.

Ai cho trẻ được cầm cây viết
Hỏi dân nghèo có biết hay chăng
Cớ sao cán bộ cho rằng
Mảng sâu lịch sử không bằng sớm mai.

Qua tham khảo được vài ý kiến
Ở quán trà câu chuyện vu vơ
Người dân nhiều ít nghi ngờ
Lương tâm cán bộ bây giờ ở đâu?

Gì cũng vậy có đầu có cuối
Sử không tường đâu buổi hôm nay
Không đêm ắt chẳng có ngày
Tìm đâu những áng thơ hay để đời.

Dòng cổ tích không người kể lại
Truyền thuyết dần cũng phải chia li.
Ca dao, tục ngữ làm gì?
Dân ca, quan họ ra đi nghẹn ngào.

Hỏi đất nước làm sao phải giữ?
Hãy nghe dòng lịch sử gào than
Từ đâu có nước Việt Nam
Muốn thông phải học sử vàng hiểu chưa.

Để nghe tiếng ngày xưa vọng lại
Để bây giờ lưu mãi đời sau
Sử son không thể úa màu
Đừng quên lịch sử để đau nước nhà.

Lê Minh (thơ của Song Lê)



Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

BÀN VỀ ỨNG XỬ KHI ĐẤU TRANH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

LÊ MINH - Mạng xã hội thật hay ảo? Thật - ảo đều tuỳ thuộc vào quan điểm, mục đích của mỗi cá nhân khi sử dụng nó mà thôi. Song có một điều không thể bàn cãi là, dù mạng xã hội là mạng ảo, nhưng cá nhân sử dụng mạng xã hội (facebook, zalo, youtobe, blog…) đều thể hiện tư tưởng của cá nhân. Và, tư tưởng là thật, cho dù mục đích lên mạng ở góc độ nào! Mỗi bài viết dài hay ngắn, mỗi cái comment của chúng ta khi đăng lên trên mạng xã hội đều phản ánh tư tưởng, tình cảm của cá nhân, qua đó cũng phản ánh văn hoá ứng xử của chúng ta. Công dân Việt Nam lên mạng xã hội ít, nhiều đều đã hoặc phải thể hiện cái cốt cách, bản sắc riêng của văn hoá Việt Nam. Những ai tham gia mạng xã hội để đấu tranh với cái xấu, xây dựng cái đẹp, nhất là đấu tranh với luận điệu xuyên tạc, chống phá của bọn chống cộn cực đoan, chống phá đất nước, càng phải thể hiện rõ bản lĩnh, cốt cách, văn hoá của dân tộc Việt Nam.
Ứng xử thực chất là đối nhân xử thế ở đời, được coi là giá trị văn hoá kết tinh trong một con người, trong cộng đồng, và của dân tộc là biểu hiện tổng hợp của văn hóa - đạo đức, qua cách ứng xử có thể thẩm định được nhân cách của một con người, giá trị của cộng đồng hay của một dân tộc. Dịch giả, nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn từng nói: "Văn hóa giao tiếp ứng xử vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến sự tồn vong của cả một dân tộc".
Dân tộc Việt Nam với nền văn hoá đặc sắc, phong phú, đầy bản lĩnh nhưng cũng chứa đựng những giá trị cốt lõi vô cùng tốt đẹp, trong đó có văn hoá giao tiếp, ứng xử. Cái đẹp trong văn hoá ứng xử được hình thành qua quá trình dựng nước và giữ nước, được cha ông ta lưu giữ, truyền lại từ đời này sang đời khác, trở thành nền tảng, định hướng cuộc sống, hành động của mỗi con người Việt Nam, của cộng đồng và giữ vai trò quan trọng trong quá trình sinh tồn, phát triển của đất. Văn hoá giao tiếp, ứng xử ấy cũng là cốt cách, là bản lĩnh để dân tộc Việt Nam ứng xử hài hoà, đúng mực, vượt qua bao thách nghềnh, biến thiên của thời đại để phát triển đi lên.
Những giá trị tốt đẹp trong giao tiếp, ứng xử của văn hoá Việt Nam biểu hiện sinh động trong cách ăn, ở; trong ứng xử người với người là sống có trước, có sau; là cách ứng xử của cá nhân với đất nước (Làm người đói sạch rách thơm/Công danh là nợ nước non phải đền), là ứng xử kiên quyết với kẻ thù những cũng nhân văn, thậm chí là khoan dung, độ lượng ngay cả khi kẻ thù buộc chúng ta phải cầm gươm, cầm súng tự vệ (trong lời dụ của Lê Lợi gửi Vương Thông:"Cầu đường sửa xong, thuyền xe sắm đủ, hai đường thuỷ lục, tuỳ theo ý muốn, đưa quân ra cõi, yên ổn muôn phần...")… Cái đẹp trong ứng xử của con người Việt Nam đã kết tinh lại, hội tụ lại thành những giá trị tinh tuý nhất, trở thành sức mạnh của đất nước, con người Việt Nam, một đất nước lấy chí nhân thay cường bạo, lấy đại nghĩa thắng hung tàn.
Một con người rất Việt Nam, nhìn vào là thấy văn hoá ứng xử của Việt Nam, đó là Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Văn hoá ứng xử Việt Nam đã kết tinh trong con người Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Người vận dụng, thể hiện rất sáng tạo, từ việc ứng xử với người, ứng xử với mình, ứng xử với công việc và cả ứng xử với kẻ thù.
Trong xử lý công việc, khi đứng trước mọi vấn đề, mọi tình huống, Bác Hồ của chúng ta luôn làm một việc rất quan trọng, đó là "phải suy tính kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm vậy". Khi tiếp xúc với một sự việc quan trọng, đối mặt với kẻ thù… nguyên tắc ứng xử của Bác là "Dĩ bất biến, ứng vạn biến"; tức là lấy cái kiên định vững vàng để ứng phó với mọi biến cố; ở đây cái bất biến đó là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tự do hạnh phúc của nhân dân; mỗi bước đi lên cách mạng phải đối phó với muôn vàn sự biến đổi, đòi hỏi lý trí sáng suốt, tỉnh táo, nhạy bén, chủ động thay đổi cách thức đấu tranh cho phù hợp. Một phóng viên người Pháp đã nhận định về Bác: "Mềm dẻo hay kiên quyết khi cần thiết, nhưng bao giờ cũng tự chủ và vẫn giữ phong thái Việt Nam, Ông biết đương đầu với những biến động chính trị và lịch sử, đem cái sức tỏa sáng phi thường và vô vàn đức tính cao quý của Ông phục vụ sự nghiệp mà Ông là hiện thân". Nhận định đó đã nói lên sự linh hoạt, biến hóa trong mọi tình huống, nhưng cũng rất chủ động; thể hiện cái "bất biến" và cái "vạn biến" trong ứng xử; đồng thời cũng thể hiện cái nét đặc trưng của Bác đó là đạo đức Hồ Chí Minh, là tinh thần dân tộc và cách mạng triệt để.

Bác Hồ bên cạnh nòng pháo trên tàu chiến Pháp
Bác Hồ bên cạnh nòng pháo trên tàu chiến Pháp
Ứng xử với đồng bào lầm đường lạc lối, Bác của chúng ta thể hiện sự khoan dung, chân tình, đại nghĩa vô cùng. Trong thư gửi đồng bào Nam bộ, Bác Viết: "Năm ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài. Nhưng ngắn dài đều họp nhau tại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này người thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ". Bởi vì theo Bác: "Sông sâu, bể rộng bao nhiêu nước cũng vừa, cái đĩa cạn, cái chén nhỏ thì chỉ một giọt nước cũng tràn đầy. Chỉ sợ mình không có lòng bao dung nhân ái, chứ không sợ người ta không theo mình". Khi giao tiếp với chính kẻ thù, kể cả những kẻ đã gây ra đau khổ cho dân tộc Việt Nam, Bác luôn nhắc nhở đồng bào và chiến sĩ ta cần nêu cao lý tưởng chính nghĩa, nhân đạo, hòa bình, đối xử khoan hồng với tù binh và kiều dân Pháp để "cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người cướp nước". Bác nói từ trái tim ra, Bác đối xử với mọi người bằng tình thương, nên sức thuyết phục của người rất lớn, lớn đến mức kẻ thù cũng không dám xúc phạm, cũng phải ngưỡng mộ. Cho nên thế giới bình luận rất sâu sắc: “Hồ Chí Minh có thể có rất nhiều đối thủ, nhưng tuyệt nhiên không có kẻ thù”, vì kẻ thù cũng được khuất phục bằng tấm lòng nhân ái, bằng sự độ lượng, vị tha, bằng cả sự thông thái, mẫn tiệp của nhà tư tưởng, của vĩ nhân.
Có thể khẳng định rằng, dù ở bất kỳ nơi đâu, trên bất kỳ cương vị nào, từ việc nhỏ nhất đến sự nghiệp cách mạng, mục tiêu cuối cùng mà Người phấn đấu, hy sinh suốt cuộc đời luôn luôn là độc lập dân tộc và ấm no hạnh phúc cho Nhân dân. Và ứng xử là để phục vụ cho mục tiêu bất biến ấy. 
Bịt nòng pháo trên tàu chiến Pháp
Bác Hồ lấy tay bịt nòng pháo trên tàu chiến Pháp
Từ những vấn đề về ứng xử với việc và ứng xử với kẻ thù được thể hiện trong văn hoá Việt Nam và qua phong cách ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sẽ rất bổ ích cho mỗi người trong chúng ta khi lên mạng xã hội để đấu tranh, phản biện, bảo vệ công lý, bảo vệ Tổ quốc. Tôi không dám tự rút ra bài học định hướng, xin mạn phép được dành lại cho mọi người. Thân ái.

Thứ Ba, 27 tháng 2, 2018

Chống xét lại lịch sử dân tộc, bảo vệ sự hy sinh của các anh hùng liệt sỹ

“NHÌN LẠI LỊCH SỬ” ĐỂ LÀM GÌ HAY LÀ ĐỂ XÉT LẠI NGUỒN GỐC CỦA MÌNH ĐÃ SINH RA?
         P/s: Trào lưu xét lại lịch sử, hạ bệ thần tượng, giật đổ tượng đài là một hành động đáng bị phỉ nhổ. Con người sinh ra không có quyền chọn cha mẹ, mỗi công dân không có quyền chọn nơi chôn rau cắt rốn, nhưng có quyền thay đổi nơi sinh sống, song không vì thế mà có quyền xét lại lịch sử, xét lại cội nguồn. Mời độc giả đọc bài viết "CẦN PHẢI XEM XÉT DƯƠNG TRUNG QUỐC “NHÌN LẠI LỊCH SỬ” của tác giả nhà văn Đông La. Qua bài viết cho chúng ta cái nhìn biện chứng, tỏ tường về bản chất, âm mưu của những kẻ xét lại lịch sử.
ĐÔNG LA:
Thể chế Việt Nam có chuyện đáng lo ngại và hơi buồn cười là bỏ nhiều công sức đào tạo, ưu ái, trọng dụng rồi vinh danh những kẻ thực chất là tầm thường chỉ tài diễn. Nguy hiểm ở chỗ những kẻ đó lại thường là những kẻ tham vọng và cơ hội, khi tham vọng chưa thoả và có cơ hội dù ngược với lý tưởng, lương tri và đạo lý mà họ từng theo, họ vẫn sẵn sàng làm theo, sẵn sàng “đón gió, trở cờ”, phản dân hại nước. Những kẻ này thường có khả năng thu hút được đám đông chính vì thế là những mầm mống tạo  nguy cơ của hỗn loạn và sụp đổ. Đó là những Nguyên Ngọc, Chu Hảo, Huệ Chi, Quang A, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Duy, Nguyễn Quang Lập, Phạm Xuân Nguyên, v.v… và giới sử học có Phan Huy Lê và một nhân vật là đại biểu QH mà nói gì cũng sai, luôn là thiểu số “cá biệt” trên diễn đàn QH, với chuyên môn lịch sử thì có dã tâm lộn tùng phèo, xoá nhoà tất cả ranh giới của chính tà, thiện ác. Đó chính là Dương Trung Quốc mà bài viết dưới đây của tôi là một dẫn chứng nhỏ.
        
       Trên trang của RFA, 19-04-2017, có bài: “Nhà sử học Dương Trung Quốc: Lịch sử cần được nhìn lại” của Tường An (thông tín viên RFA), trong đó có đoạn:
“Ngay cả sau khi đã thống nhất, lịch sử vẫn không được viết một cách trung thực do môn lịch sử học được sử dụng như một công cụ tuyên truyền, một vũ khí văn hóa để huy động quần chúng. Vì những lý do đó, một nhóm nghiên cứu thông sử được thành lập để nhìn lại sử Việt Nam dưới cái nhìn tương đối khách quan hơn. Trong đó, có nhà nghiên cứu sử Dương Trung Quốc, ông …  cho biết lý do cần phải có một bộ sử mới:
«Chúng tôi nghĩ rằng là ai nói đến lịch sử cũng thường nói đến yếu tố là tính khách quan, thậm chí là phi chính trị. Nhưng tôi cho rằng đó chỉ là một yếu tố mang tính tương đối thôi, bởi vì làm sao có thể khách quan được khi do một nhóm người rất cụ thể viết ra và nhất là trong những chế độ do nhà nước chủ đạo”;
«Còn với bộ sử hiện nay, bộ sử được coi như mang tính chất nhà nước là do Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam đứng ra tổ chức và năm 1970, vào thời điểm chiến tranh, cho nên rõ ràng cái định hướng là huy động sức mạnh tinh thần, trong đó khai thác giá trị lịch sử để đạt được mục tiêu chính trị, mục tiêu lịch sử của cuộc cách mạng. Rõ ràng những bộ sử ấy cũng chưa hoàn thiện… giai đoạn sau thì nó mang tính chất đương đại vì dẫu sao phải có độ lùi thời gian và có cách nhìn nhận, tránh chủ quan và đặc biệt là không bị tác động quá mạnh của yếu tố chính trị.»
Bộ sử mới được huy động những chuyên gia đầu ngành, chủ trì là Giáo sư Phan Huy Lê, dự định thực hiện trong vòng 3-4 năm, bắt đầu từ năm 2015. Bộ “Quốc sử” được biên soạn sẽ gồm 25 tập, ông Dương Trung Quốc nói mình sẽ tham gia vào 1 trong 4 tập còn lại viết về giai đoạn từ 1858-1945:
«Trong đó có một tập mà tôi tham gia dưới hình thức là biên niên sử (chronology)… Bên cạnh những giáo trình sử học, lịch sử … chúng tôi cũng nhận thấy rằng cũng hạn chế không ít về phương pháp luận khoa học, đặc biệt cách nhìn nhận nó vẫn chưa được thống nhất và phù hợp với cái nhu cầu hiện nay của chúng ta, tức là nó tăng sức thuyết phục  từ cái tính khoa học của nó cho đến nhản quang nhìn nhận một cách minh bạch những vấn đề của quá khứ, vì thế dẫn đến một chủ trương của nhà nước là chỉ đạo cho giới sử học làm một đề tài lớn được gọi là bộ quốc sử… Người ta kỳ vọng rằng nó có thể tạo ra một bước chuyển nó tương xứng với các thành tựu nghiên cứu sử học trong thời gian vừa qua và đồng thời nó phù hợp với nhận thức đổi mới, nó làm tăng sức thuyết phục và nó thu hút được sự chia sẻ của người đọc, trước hết là của những người Việt Nam đối với lịch sử dân tộc của mình và sau đó là với các bạn đồng nghiệp của giới sử học quốc tế».
Ông Dương Trung Quốc cũng cho biết bộ sử mới còn có những thay đổi:
«Tôi lấy thí dụ một câu chuyện mà cũng trở thành băn khoăn của mọi người: nhân vật Lê văn Tám chẳng hạn! Rõ ràng nó là một truyền thuyết của thời hiện đại. Có những người muốn tin nó là thật, nhưng có những người cảm thấy khó tin. Nhưng lúc đó nó phản ảnh một nhu cầu là tinh thần chống giặc ngoại xâm».
***
Như vậy ông Dương Trung Quốc cho rằng Lịch sử Việt Nam hiện có và được dạy cho học sinh, nhất là phần “đương đại”, đã vì “mục tiêu chính trị”, bị “hạn chế không ít về phương pháp luận khoa học” nên “chưa hoàn thiện”, chưa “minh bạch” và chưa “khách quan”. Vì vậy theo ông ta là cần phải “tạo ra một bước chuyển nó tương xứng với các thành tựu nghiên cứu sử học trong thời gian vừa qua và đồng thời nó phù hợp với nhận thức đổi mới, nó làm tăng sức thuyết phục và nó thu hút được sự chia sẻ của người đọc, trước hết là của những người Việt Nam … và sau đó là với các bạn đồng nghiệp của giới sử học quốc tế”.
Với khoa học công nghệ giá trị luôn là khách quan, thống nhất nhưng với lịch sử thì ngược lại, cách nhìn về chính tà, thiện ác của những nước từng xâm chiếm Việt Nam luôn ngược với cách nhìn của chúng ta. Vì vậy ông Dương Trung Quốc đã tự mâu thuẫn vì không thể có một lịch sử khách quan theo ý ông ta là chiều theo ý của tất cả người Việt Nam từng ở hai phía chiến tuyến, chiều theo ý “các bạn đồng nghiệp quốc tế” ở các nước từng xâm lược Việt Nam. Để thoả mãn những điều đó có chăng chỉ có thể có một thứ lịch sử được viết ra bởi những kẻ cơ hội, đón gió và xu thời mà thôi!
***
Thứ nhất về “mục tiêu chính trị” của lịch sử. Nếu khuôn cái nhìn lịch sử theo cái nhìn của lực lượng nắm quyền phản dân, phản tiến bộ, phục vụ cho việc cai trị, không đúng bản chất của sự thật lịch sử, rõ ràng là sai trái. Nhưng chế độ chính trị nước ta được hình thành sau khi chiến thắng ngoại xâm, giành lại chủ quyền và giữ vững nền độc lập, có lẽ nào vì “mục tiêu chính trị” đó, nhận thức lịch sử theo cái nhìn biện chứng, khoa học, khách quan đó lại cần phải được “nhìn lại” theo cái nhìn cơ hội, xu thời của Dương Trung Quốc và băng nhóm của ông ta, đứng đầu là Phan Huy Lê? Nếu có sai ở đây chính là nhận thức chính trị sai của Phan Huy Lê, Dương Trung Quốc… chứ lịch sử vì “mục tiêu chính trị” chính nghĩa, nhân đạo, văn minh không thể sai!
Trên thế giới liệu có nước nào chủ trương chép một loại sử phi chính trị như ý Dương Trung Quốc? Với nước Mỹ, trong chuyến du lịch vừa rồi, gia đình tôi đã đến “vùng đất thánh”, tận mắt chứng kiến khu tưởng niệm quốc gia. Tôi đã bị bất ngờ bởi trước mắt là cả một quần thể đền, đài, tượng vĩ đại, trang trọng, sang trọng, tưởng niệm Washington, Lincoln, Jefferson, Roosevelf… trong một diện tích mênh mông nối với các trung tâm quyền lực nước Mỹ. Đó cũng chính là lịch sử nhưng không phải bằng các con chữ mà bằng các công trình văn hoá mỹ thuật kỳ vĩ được xây dựng cũng theo “mục tiêu chính trị” để tôn vinh những anh hùng dân tộc của nước Mỹ đã có công mà chính cựu TT Obama trong chuyến thăm Việt Nam đã nói tại Hà Nội: "Vào một thời điểm khác, việc cùng chung lý tưởng đánh đuổi thực dân đã đưa chúng ta xích lại gần nhau". Đúng vậy, vào thập niên 1770 đã nổ ra cuộc chiến tranh của 13 thuộc địa chống lại nước Anh vì chính sách thuế dẫn đến chuyện nước Mỹ tuyên bố độc lập khỏi Vương quốc Anh bằng một văn kiện do Thomas Jefferson viết ra. Lực lượng yêu nước Mỹ dưới sự lãnh đạo của Tướng George Washington đã giành được chiến thắng và đạt được hòa bình vào năm 1783.
Chúng tôi cũng đến Trung tâm Lưu giữ quốc gia Mỹ (Archives of The United States of America), nơi lưu giữ các văn bản gốc liên quan đến quá trình hình thành Bản Tuyên ngôn Độc lập, Hiến pháp và sự đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ, những văn bản mang tính lịch sử thiêng liêng đối với dân Mỹ. Tất cả những văn bản mỏng manh, vàng úa theo thời gian được lưu giữ trong một toà nhà vĩ đại, tuyệt đẹp, được canh gác nghiêm ngặt, gian chính để hiện vật cấm chụp ảnh và ánh sáng mặt trời cũng được ngăn lại mà được chiếu sáng bằng ánh sáng nhân tạo vàng mờ để loại tia cực tím vì họ sợ tất cả các loại ánh sáng tác động xấu đến các văn bản.

***
Về ý của Dương Trung Quốc cần phải “tạo ra một bước chuyển nó tương xứng với các thành tựu nghiên cứu sử học trong thời gian vừa qua”. Vậy xin điểm qua vài “thành tựu” và vài nét “chân dung” của Dương Trung Quốc.
Dương Trung Quốc từng cho Hiệp Định Genève 1954 đã giao miền Nam cho phía VNCH cai quản nên Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có quyền viết về chủ quyền của Hoàng Sa, Trường Sa. Về cuốn “Bên thắng cuộc” của Huy Đức cho “Miền Nam giải phóng Miền Bắc”, theo BBC: “Sử gia Dương Trung Quốc… 'đánh giá cao' cuốn sách”!
Theo thông tin của một cán bộ ở Đồng Tháp làm trong ngành Lịch sử cho biết việc: “Ông Đặng Phước Thành muốn biến khu thờ tự của ông ta thành khu du lịch nên đã “nhờ người “câu móc” với Hội Sử học VN mà trực tiếp là tạp chí Xưa & Nay (Tất nhiên ông Thành phải chi hàng tỷ đồng để “đài thọ”)”. Ngày 2-7-2014, Tạp chí Xưa & Nay đã đánh công văn gởi ông Đặng Phước Thành thông báo việc đã mời “các nhà khoa học” tham gia Hội đồng tuyển chọn với ông Dương Trung Quốc làm cố vấn, đã chọn ra 125 nhân vật, trong đó có việc Nguyễn Ánh được đặt ngang với Nguyễn Huệ”.
Cách nhìn “mới” về Nguyễn Ánh và Nguyễn Huệ có lẽ là một trong những“thành tựu”nghiên cứu lịch sử chính của nhóm Phan Huy Lê, Dương Trung Quốc. Họ không chỉ đặt Nguyễn Ánh ngang hàng với Nguyễn Huệ mà thậm chí Phan Huy Lê trên tạp chí Xưa và Nay số 486 – tháng 8-2017, trong bài viết “Công cuộc khôi phục thống nhất quốc gia cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX”, còn cho rằng Nguyễn Ánh đã có công “thống nhất đất nước”do đã tiêu diệt được và đã chiến thắng nhà Tây Sơn!
Trong bối cảnh Nhà Lê suy tàn, thượng bất chính hạ tắc loạn nên mới gây ra cuộc Trịnh, Nguyễn phân tranh, đẩy dân ta vào cảnh nồi da xáo thịt mấy trăm năm. Trong cảnh loạn ly đó, chính Nguyễn Huệ đã dẹp loạn trong nước, thắng giặc ngoại xâm hai đầu đất nước, khi vua cuối triều Lê chạy trốn lưu vong, ông đã lên ngôi vua. Theo thông lệ thời đó, ông đã được Nhà Thanh công nhận (như sau này quốc tế công nhận), tức việc lên ngôi của Nguyễn Huệ đã hoàn toàn chính danh, hợp pháp.
Còn Nguyễn Ánh chính sử ghi là “cõng rắn cắn gà nhà”; “rước voi về giày mả tổ” bởi vào cuối năm 1783, để chống lại quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã giao cho Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine), một Giám mục người Pháp, một tờ quốc thư, quốc ấn cùng người con cả là Nguyễn Phúc Cảnh như là con tin, để vị giám mục này thay mặt mình sang Pháp cầu viện triều đình vua Louis XVI. Nguyễn Ánh chấp thuận nhường cửa biển Đà Nẵng và quần đảo Côn Lôn cho Pháp, cho phép người Pháp được quyền tự do buôn bán và kiểm soát thương mại của người nước ngoài ở Việt Nam, mỗi năm sẽ phải trả dần tiền viện trợ cho Pháp đồng thời cung cấp lương thực và quân nhu thiết yếu cho Pháp khi Pháp có chiến tranh với một nước khác ở khu vực Viễn Đông. Sự cầu viện chưa thành, với sự đại bại trước quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh lại đi cầu viện quân Xiêm, dẫn đến họa quân Xiêm làm đủ điều tàn bạo với dân chúng. Nguyễn Ánh đã bất lực buông xuôi, giao hết việc lại cho thuộc tướng rồi bỏ ra các đảo.
Vậy Nguyễn Ánh nhân cơ hội Vua Quang Trung bệnh chết đột ngột, tiêu diệt Nhà Tây Sơn, chính là sự phản nghịch, cướp ngôi, như ngôn ngữ hiện đại, đó chính là sự đảo chính phi pháp.
Nếu chỉ biết ghi chép các sự kiện theo tư duy kiểu “con vẹt” thì không cần nhà sử học. Nhà sử học khác con vẹt là trước các sự kiện phải hiểu được bản chất chính tà, thiện ác của chúng. Phan Huy Lê viết Nguyễn Ánh có công “thống nhất đất nước” chẳng khác gì nói bọn phong kiến phương Bắc cũng từng hàng ngàn năm thống nhất Việt Nam, Pháp cũng 100 năm thống nhất Việt Nam!
***
Về người thiếu niên anh hùng, nhân vật lịch sử Lê Văn Tám, Dương Trung Quốc đã nói theo Phan Huy Lê: “Nhân vật lịch sử anh hùng Lê Văn Tám hoàn toàn không có thật”. Nhà văn BS Nguyễn Văn Thịnh đã viết một bài “LẤY SỰ DỐI TRÁ TRÙM LÊN SỰ THẬT” chỉ ra sự dối trá của Phan Huy Lê với rất nhiều nhân chứng, vật chứng. Tôi không thể trích dẫn hết được, chỉ xin trích sự chứng thực “nhân vật Lê Văn Tám” của chính Bác Hồ, của cơ quan “Đảng bộ TPHCM” và người cùng thời với nhân vật lịch sử:
- Báo Cứu quốc số 74 ra ngày 23/10/1945 (bảy ngày sau sự kiện xảy ra) đưa tin trong cuộc họp báo tại Hà Nội, Hồ Chủ tịch nói: “Sự hy sinh của đồng bào ta trong cuộc chiến đấu oanh liệt trong Nam bộ bây giờ, cái cử chỉ phi thường của một chiến sỹ tự tẩm dầu xăng vào mình để vào đốt một kho dầu của bên địch, tỏ ra rằng một dân tộc đã có tinh thần cao đến bực ấy thì không sức mạnh nào có thể đè bẹp được”.
- Lịch sử Đảng bộ TPHCM xác nhận sự việc thiếu niên Lê Văn Tám đốt cháy kho xăng vào những ngày đầu Nam bộ kháng chiến và còn ghi rõ người tổ chức là đồng chí Lê Văn Châu, sau này hy sinh ở mặt trận Thị Nghè năm 1947.
- Đại tá Võ Thành Khiết mô tả khá chi tiết trận đánh kho xăng Thị Nghè đêm 17/10/1945: “Tôi sinh năm 1929, quê ở xã Tân Bửu, Trung Huyện, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc địa bàn huyện Bình Chánh và Bến Lức). Năm 1940 tôi lên học ở Trường Pétrus Ký (nay là trường Lê Hồng Phong) Sài Gòn. Vì trường bị quân Nhật chiếm làm trại lính nên chuyển về học tại trường Trưng Vương ngày nay, sát ngay Sở thú, kế bên Thị Nghè… Bởi thế vùng này tôi rành lắm. Kho xăng Thị Nghè thực ra chỉ là một đại lý bán sỷ của hãng dầu Shell, nằm trên con rạch Văn Thánh, sát đầu cầu... Tôi còn nhớ rõ đó là một căn nhà thấp, nền đất, không rộng lắm, mái tôn xập xệ, vách là những tấm gỗ mảnh đóng thưa, bên trong chứa đầy chật những phuy xăng dầu dung lượng 200 lít… Sau ngày Nhật đảo chánh Pháp 9/3/1945, tôi về quê, tham gia Thanh niên tiền phong. Ngày 24/8/1945, tham gia cướp chính quyền ở tòa Bố tỉnh Chợ Lớn…thường xuyên ra vào thành phố lấy tin tức. Trận đánh kho xăng lửa khói ngất trời. Trận đánh kho đạn tiếng nổ điếc tai nhức óc. Thành phố náo loạn cả lên. Hôm sau đồn rầm những tin truyền khẩu rồi mới là báo chí. Trận nào cũng nói là bị Việt Minh đánh…  Tin tức nội bộ nói là do một thiếu niên tên Tám xung phong đánh. Em Tám chứ không nêu đủ họ danh Lê Văn Tám như sau này đâu. Lòng người lúc đó phấn chấn lắm bởi đang rất căm thù giặc với phong trào tiêu thổ kháng chiến rất cao. Báo chí hai phía đưa tin rần rần. Khi thùng xăng phật lửa phụt ra cháy khắp người khác chi là “ngọn đuốc sống” đâu? Gương anh dũng hy sinh của bạn Tám lúc bấy giờ động viên lớp trẻ chúng tôi rất nhiều trong chiến đấu. Đó là chuyện có thật 100%, không phải hư cấu như người ta nói”.
Nguyễn Văn Thịnh viết:
“Sử gia Lê phân bua về lời nhắn gửi của ông thầy: “Lúc sáng tác ra câu chuyện Lê Văn Tám, anh Liệu có nói với tôi rằng: Bây giờ vì nhiệm vụ tuyên truyền nên tôi viết tài liệu này, sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, các anh nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa”. Hãy bình và suy ra từ đoạn văn này: Câu chuyện xảy ra cuối năm 1945. Nếu ông Trần viết “tài liệu” này vào thời điểm bấy giờ thì thằng bé Phan Huy Lê 15 tuổi khôn ranh mực nào để được hóng chuyện nhà cách mạng tiếng tăm Trần Huy Liệu? Còn nếu như sau này ông Trần mới “sáng tác” ra thì đã quá xưa rồi vì ngay sau khi sự việc xảy ra, khắp trong Nam ngoài Bắc các tờ báo Kèn gọi lính, Quyết chiến, Thời mới, Cờ giải phóng… đã đăng tải chuyện đó rầm rầm. Ông Trần còn viết để làm gì trong tình cảnh việc nước như lửa bỏng dầu sôi và việc nhà quá nhiều chuyện rối?”
“Phải chờ bốn năm sau, khi công luận của Đảng bộ và những vị lão thành cùng những chiến sỹ từng chiến đấu ở mặt trận Nam Bộ – Sài Gòn tỏ thái độ công phẫn bất bình trong các cuộc hội họp và trên báo chí phản ứng quyết liệt thì đấy mới là “dịp thuận lợi” để sử gia Lê thòi cái đuôi ra. Trên tạp chí nhà Xưa &Nay số 340, tháng 9/2009, ông công bố bài viết với những luận điệu nửa nạc nửa mỡ, nửa xuề xòa xí xóa, nửa quanh co bịp bợm với cái lý luận chuyên ngành lừa thiên hạ. Sau những dẫn chứng lòng thòng lôi thôi ông lộ dần ra: “Lê Văn Tám không phải là tên của nhân vật lịch sử có thật nhưng phản ánh một sự kiện lịch sử có thật, một tinh thần hy sinh vì Tổ quốc có thật”.
***
Đổi mới nghiên cứu lịch sử không phải là chuyện thay đổi các giá trị, thay đổi các chuẩn mực của đạo lý, thay đổi bản chất các vấn đề. Mà đổi mới là cần phải đánh giá lịch sử một cách biện chứng hơn, để tiếp cận bản chất các sự kiện, tiến gần tới chân lý hơn. Trên quan điểm đó nhiều thái độ đối với các nhân vật, sự kiện lịch sử cần thay đổi, cần vị tha, nhưng nhận thức bản chất các vấn đề thì không thể thay đổi. Người ta không thể đổi trắng thay đen, lộn ngược các giá trị về thiện ác, đạo lý. Cái khó hiểu đối với tất cả người Việt có lương tri là tại sao những cơ quan, những cá nhân có trọng trách về lịch sử, văn hoá và tư tưởng của nhà nước lại tạo điều kiện, ủng hộ hoặc trước những dư luận phản đối không xử lý nghiêm minh những người nghiên cứu lịch sử, viết sử luôn kêu gọi viết sử phải khách quan, khoa học nhưng chính họ lại có cái nhìn không chỉ chủ quan, phản khoa học mà còn ngược với lương tri, đạo lý?!
Với Dương Trung Quốc là Đại biểu Quốc hội nhưng thường đưa ra ý kiến nào cũng sai. Tác giả Dương Đại Việt từng viết về Dương Trung Quốc như sau:
“Những người cơ hội chính trị không có quan điểm chính trị rõ ràng, luôn ngả nghiêng, dao động, không kiên định. Khi thuận lợi thì tỏ ra “cấp tiến”, khi gặp khó khăn thì thoái lui, thoả hiệp.
… tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội Việt Nam Khóa XIII, Dương Trung Quốc muốn chứng tỏ sự “cấp tiến” của mình đã phát biểu chất vấn tại nghị trường quốc hội, ngạo mạn đặt vấn đề “văn hóa từ chức” … khi nghe Thủ tướng trả lời một cách chân thiết, khúc chiết, thấu lý đạt tình, nhận được sự tán dương của đa số đại biểu Quốc hội, thì ông Dương Trung Quốc liền chữa lửa bằng lời thanh minh “chất vấn là để xem Thủ tướng trả lời ra sao, và với nội dung Thủ tướng vừa đối đáp thì nhân dân yên tâm, tức là an dân”. Điều đó cho thấy ông Dương Trung Quốc rõ ràng là kẻ cơ hội chính trị, luôn ngả nghiêng, dao động. Coi việc chất vấn là trò chơi chính trị cá nhân chứ không phải là đại diện cho cử tri thảo luận các vấn đề trọng đại của quốc gia”. Làm dấy lên làn sóng chỉ trích Thủ tướng rất nhiều…”
1-11-2017

ĐÔNG LA